Monday, January 4, 2016

Trại 5, Mùa Cùm!

by Phạm Văn Thành, Jan. 4, 2016


Trại 5, Mùa Cùm!


$pageIn1


Chú thích của TV PVT: Trại 5 Lam Sơn ngày nay (sau 2010 ....) cũng còn gọi là Trại 5 Thanh Hóa tức trại giam số 5 của Bộ Công an cộng sản tại Thanh Hóa, nơi đây sau 2005 đã giam giữ Phạm Thanh Nghiên, Trần Ngọc Anh, Lê Thị Công Nhân, Lê thị Kim Thu, Tạ Phong Tần, Cù Huy Hà Vũ, Trần Khải Thanh Thủy … và mới đây giam những người bị tước đoạt điền sản tại Dương Nội với người nữ dân oan tiêu biểu là chị Cấn thị Thêu. Nơi đây cũng còn đang giam giữ người con gái đất Trà Vinh, Nguyễn Đặng Minh Mẫn...-Nguồn ảnh: VOA tiếng Việt (http://www.voatiengviet.com/)


1995

Sau Tết chừng hai tháng thì 10 người tù A 20 ra bắc hồi đợt tháng 11.1994 được chuyển sang nhà 4, đoàn tụ với anh em A 20 ra bắc đợt cận Tết 1995.
Anh em mừng tủi ôm nhau nước mắt lưng tròng. Tội tu sĩ Nguyễn hữu Tín, ông gầy đét, trơ hai hàm răng trắng đứng đợi tôi cạnh cổng ra vào, nắm lấy lấy tay tôi ông hỏi « …sao gầy vậy Thành! »

Nhìn ông, nhìn anh em, vui mà muốn khóc. Tôi nói.
- Bộ thầy mập lắm hay sao mà biểu con sao gầy thế?

Ông cười, mặt gần như chỉ còn thấy hàm răng trắng và hai con mắt đã nhiều lớp nhăn, xúng xính trong bộ áo quần màu nâu đã bạc thếch, nổi đậm lên hai chữ cải tạo màu đen đã đổi thành xám xịt, đóng to đùng giữa lưng và hai đùi.

Anh Nguyễn Kim Long đứng trên bực thềm, gầy không thể tả! Hai con mắt đã thành sâu hoắm, đôi tay lòng khòng đưa ra ôm lấy tôi. Bên cạnh là giáo sư Nguyễn văn Bảo và võ sư Lê Ngọc Vàng.
Đỗ bạch Thố vẫn như ngày nào ở A 20, rất nhanh gỡ ba lô và cái hòm gỗ (chính Thố đóng bằng gỗ mít ở A 20) trên tay tôi xuống rồi đem thẳng vào chỗ nằm đã qui định sẵn.

Những người tù từ A20 Xuân Phước, bị cộng sản đày ra Trại 5 Thanh Hoá 1995 và ngày 29.12.1999 chuyển về trại Nam Hà. Trong hình này, hầu hết là án từ 16 năm đến chung thân. Hàng đầu từ trái: Trần Đế (Cần Thơ 18 năm); Chí sĩ Cao Đài Hồ Vũ Khanh; Đỗ Minh Tuấn - tổ chức Hoàng văn Hoan- Hải Phòng); và Trần Nam Phương (Quảng Nam chung thân). Hàng sau từ trái: Nguyễn duy Cường (Vũng Tàu, áo choàng xanh đen, 14 năm); Dương văn Sĩ (Sóc Trăng chung thân); Lê Thiện Quang (Huế 15 năm); Lương quang Hòa (Thanh Hóa); Vũ đình Thụy tức Võ Lâm Tể (Phú Yên chung thân); Phan Văn Bàn (Quảng Nam /Long Thành, tổng án 32 năm) (1); Bùi Thúc Nhu (Phú Yên, chung thân) - ảnh tư liệu của Phạm văn Thành

Gặp lại nhau, dù mới cách xa có 5 tháng, nhưng tình cảm thật dạt dào! Thứ tình cảm mà suốt 16 năm tiếp theo đằng đẵng trong đời tôi -sau tù- không thể tìm có được, dù đã đi cùng trời cuối đất khắp Âu Á Mỹ Úc xa xôi…

Khu cách ly A4 là một nhà bê tông mái bằng, xây dựng lại trên nền đất của bệnh xá trại tù trung ương số 5 Lam Sơn, một nhà tù hơn 50 năm liền đoạt danh hiệu tiến tiến tiêu biểu của ngành công an quản lý tù!

Dãy nhà ngăn làm đôi. Tôi và toàn nhóm 10 người bị xếp vào phần nhà phiá ngoài gần cổng A4a. Nhà có bốn thường phạm sống chung với chính trị phạm chúng tôi. Võ sư Lê ngọc Vàng, giáo sư Bảo, bác sĩ Kim Long, thày Tín, Biệt kích Nguyễn văn Trung, Bình định Trần Minh Tuấn, nhà giáo Hoàng xuân Chinh …. đều bị xé khỏi tôi và Phạm anh Dũng, Nguyễn ngọc Đăng, Lê Thiên Quang và Trần văn Lương.
Lược qua nhân sự phân bổ hai nhà, tôi hiểu là cách phân bổ này được chỉ định từ trung ương, nằm ngoài hoàn toàn quyền hành của giám thị trại 5, vì phải là đã theo dõi hồ sơ cùng hành vi của từng người nhiều tháng nhiều năm mới có thể phân định được chính xác sự …gai góc của từng người mà xếp chỗ nằm như vậy.

Phòng tôi có hai sự lạ là sự có mặt của Phượng Hoàng Phan văn Bàn. Như vậy là anh Bàn đã dấu được độ gai góc của mình. Có anh Bàn trong buồng, tôi vững tâm rất nhiều. Chỗ nằm của anh bị xếp vào góc trong cùng sát tường, đối diện chỗ nằm của Thày Mai Đắc Chương. Bên cạnh thày Chương là Trần Nam Phương rồi đến tôi, đến hình sự (thường phạm) Sáng và tới Lê thiện Quang, Đỗ Bạch Thố, Phạm anh Dũng, Trần văn Lương, Nguyễn đình văn Long, Nguyễn hữu Thiết (vụ Linh Mục Nguyễn Văn Vàng (2)). Sau anh Thiết là hai người tù thường phạm khác. Dãy bê tông đối diện là hình sự Quân, rồi tới chính trị phạm Michel Nguyễn Muôn, Moris Đỗ Hườn, rồi Kiên hình sự, rồi chính trị phạm cựu đại úy Đỗ Hồng Vân (cùng vụ tôi), nhà giáo Phan văn Lợi (anh Bảy Lợi) và một anh quê ở Huế tôi đã quên tên rồi đến anh Phan văn Bàn. Dương văn Sĩ sau khi từ Thanh Cẩm chuyển về (4 tháng sau khi tôi chuyển sang nhà A4) được xếp sát chỗ nằm anh Bàn. Vũ đình Thụy cũng nằm gần anh Bàn.

Sinh hoạt chính của khu cách ly được biểu lộ rõ nét ở buổi trưa. Đây là giờ chuẩn bị ăn trưa và nghỉ trưa. Muốn biết quan điểm và thái độ của từng người tù, cứ điểm danh các nhóm ăn cơm chung là có đáp số rạch ròi.

Khi tôi sang nhà 4A, các nhóm quan điểm tự nhiên hình thành công khai. Góc đầu hồi trên bệ hành lang phiá sau nhà A4a được anh Bàn quét dọn sạch sẽ và trở thành chiếu sinh hoạt của nhóm chúng tôi. Chủ lực từ giấc sáng tan giờ đập đá là anh Kim Long, giáo sư Bảo, Lê Ngọc Vàng, Hoàng xuân Chinh … từ buồng A4b sang. Cơm trưa chủ yếu là anh Bàn và anh Trương văn Sương quán xuyến. Nơi chiếc chiếu này, lý thuyết Nhân Bản Việt được giáo sư Nguyễn văn Bảo đặc biệt chú trọng giải bày. Bác sĩ Nguyễn Kim Long phân tích chi tiết về các vấn đề của Hiệp định Geneve và Hiệp định Paris 1973. Anh Phan văn Bàn nói về các chiến dịch Phượng Hoàng và các kinh nghiệm. Trương văn Sương được hỏi kỹ về giai đoạn hoạt động ở Hoàng Sa và biên giới Thái Việt với tổ chức anh Trần văn Bá. Vụ án và tổ chức của ông Hoàng cơ Minh cũng được đặc biệt mổ xẻ tại không gian này một cách hết sức nghiêm khắc.
Lê thiện Quang (3) chủ yếu nói về yêu cầu hài hòa tôn giáo và yêu cầu chuyên nghiệp hoá các phản ứng mang tính cách chính trị, đây là người rất cứng rắn yêu cầu anh em lột bỏ những quán tính quá khứ quân đội của những người như anh Trương văn Sương, Vũ đình Thụy:
« …Chúng ta 20 năm trước là những Thiếu úy, Trung úy, Đại úy. Nếu không mất nước mà còn sống, giờ này chúng ta đã phải mang trách nhiệm của những Đại tá, Thiếu tướng, Trung tướng … cầm vận mạng của hàng chục ngàn chiến binh và gia đình họ. 20 năm đã trôi qua, đừng ám ảnh cái dĩ vãng Thiếu úy Trung úy nữa! Quân đội đã mất, vũ khí đã mất, nước cũng không còn … việc hôm nay của chúng ta là việc của những bậc đại sĩ làm chính trị hưng quốc. Tầm vóc ấy hàng ngàn thằng Thiếu úy Trung úy không so sánh được! Phải nhận ra trách nhiệm lớn lao của từng người … »

Quang là người công giáo Phú Cam, truyền thống giữ đạo của người vùng đất thánh địa La Vang là một truyền thống hết sức đặc biệt. Vụ án của tôi bị kích lên hàng tối nguy hiểm để xử tòa đại hình đồng lúc sơ chung thẩm cũng là vì những nghi ngại liên quan đến lực lượng công giáo Phủ Cam, bởi Trần Tư đầu vụ có xuất thân từ Phủ Cam, Văn đình Nhật cũng có những dấu chỉ liên quan mật thiết với Phủ Cam, Phạm đức Hậu từ Mỹ về trước khi bị bắt hầu hết quan hệ đều dính dáng tơí các họ đạo Công giáo và Đỗ hồng Vân lại liên quan chặt chẽ với các nhóm lực vũ trang Cao đài và Phật giáo Hòa Hảo! Vụ án tiềm tàng một nỗi ám ảnh mà cơ quan an ninh đầu não cộng sản luôn luôn sợ hãi, đó là thế lực hành động của các lực lượng tôn giáo.

Trong bối cảnh ấy, Quang là người khả dĩ có thể nói rất cứng với những anh cựu sĩ quan VNCH khác, bởi bản tánh cũng như tầm hiểu biết của Quang là rất vững vàng. Xuất thân sĩ quan Nha Kỹ Thuật cũng tự nhiên làm thành tường lũy để anh có thể phát biểu những ý tưởng võ tuyên với tất cả những anh em tù A 20 mà ít ai là không phải suy nghĩ sau khi nghe những điều anh nói. Một người hiểu biết nhiều nhưng không phải bạ chỗ nào cũng phát biểu những suy nghĩ của mình.
Chiếu ăn nhóm chúng tôi khoảng 12 người sau khi tôi tách nhóm sinh hoat của Đỗ bạch Thố và anh Phạm anh Dũng. Mục đích là tránh sự chú ý của phiá giám thị vào những nhân lực chủ yếu luôn muốn hành động chống lại chủ nghĩa cộng sản bằng bất kỳ giá nào hoặc kiểu cách nào.
Hoàng xuân Chinh sống một mình vơí sự kham khổ đến mức tối đa. Nguyễn văn Trung cũng vậy, Trần Minh Tuấn cũng vậy. Đây là ba con ngươì đăc biệt vơí những cá tánh cực kỳ đặc biệt, không chịu mang ơn bất kỳ ai, dù đời sống chỉ có cơm trại và rau muối. Trần minh Tuấn suốt ngày giang nắng ngoài trời, những vồng đất cằn phèn thế nào đi nữa, với bàn tay của Tuấn, chỉ hai ba tháng sau là khổ qua, đậu bắp, cà chua, cải, mướp, bạc hà mọc lên la liệt…anh em cũng nhờ vậy mà có thêm thứ để nhét vào bụng và cũng là cơ hội để nhét vào túi cói của Tuấn lúc thì chai nước tương khi thì vài lát đậu phụ, coi như có qua có lại vì ông thần nước mặn này vô cùng khái tính. Tính cách này 20 năm ròng, Tuấn mang theo nguyên vẹn qua tất cả các nhà tù khắc nghiệt nhất nhì nam bắc. Giờ đây, 16 năm sau khi bị tống xuất khỏi nhà tù và quê hương, nhắc đến anh, lòng tôi không khỏi mênh mang cảm giác luyến thương và kính phục, một mẫu người trai đất võ đặc thù của sông núi miền trung (Bình Định).

Khu cách ly A4 là nằm trên phần đất rộng nhất của các khu trong phân trại A (giờ họ gọi là Phân trại 1, theo như cựu tù chính trị đang còn trong nước, cô Phạm Thanh Nghiên (4) xác định). Khu này giếng không có nhiều nước nên anh em quyết định đào sâu thêm. Tôi vô cùng ái ngại khi biết rằng trước đây, thời còn các anh tù cải tạo 1978/1988, khu này là bệnh xá và nhà cầu bệnh xá cũ không xa nơi đang đào sâu thêm cái giếng định mệnh là bao! Giếng sau khi cố đào hàng tuần, nước cũng chỉ đủ ½ cho gần trăm con người nên giám thị buộc phải để đội phân bổ người xuống nhà bếp để gánh nước về dùng. Anh em rất nhanh đề cử tôi đi lấy nước cho nhà buồng, vì trong nhà hầu hết đều đã già yếu hoăc bệnh tật.
Mấy tháng đầu phiá trực trại không đồng ý cho tôi ra khỏi khu cách ly để đi xuống khu nhà bếp kéo nước giếng về nhà buồng … nhưng sau đợt cùm kiên giam 7 tháng, họ nhắm mắt khi thấy tôi cứ xồng xộc gánh đôi thùng đi kéo nước, phần vì thời gian cũng đã hai năm, tình cảm nơi mỗi con người chân chính khó có thể ghét nhau mãi được. Trên có hét hò thì hét hò, còn họ là ngươì dưới, miễn sao giữ không để chúng tôi làm loạn là được … nên mỗi khi tôi xồng xộc đi kéo nước, lại có hai ba cậu hình sự xách thùng chạy theo và ông quản giáo đội bếp phải canh chừng, đội trưởng đội bếp cũng lảng vảng suốt « hành trình » từ bếp đi qua nhà căng tin, qua cổng bệnh xá và vào khu cách ly. Tất cả các thường phạm đều được lệnh cấm triệt để không được chào hỏi hay dạ thưa gì vơí chúng tôi nếu như «vô phúc » phải đụng đầu. Nhớ có lần tôi bắt chuyện vơí một ngươì mẹ còn rất trẻ, chị đang địu đứa con chừng 5 tháng, vừa địu con vừa rửa rau, cả một xe bò rau muống …
- Tôi giúp cô được gì không?
- Bác cho cháu cái …sịp!
Người mẹ trẻ trả lời rất nhanh, mắt vẫn không rời những thúng rau bự chảng.Tôi sững người mất vài giây mới hiểu ra …
Cả tháng sau đó vô tình cũng một lần rửa rau ở bờ giếng. Cô bé than “Các ông ấy vặn hỏi cháu đến chết khiếp. Giờ bác có cho cháu cái gì cháu cũng không dám nhận! Hãi lắm”!
Đó là người thiếu phụ sanh con trong nhà tù, bị bắt án 12 năm vì tội “gánh Thánh Kinh vượt biên giới”! Lần ấy, qua một đứa em hình sự tôi nhờ bàn tay nữ giang hồ khét tiếng đất cảng là cô Dung Hà để lo chút đỉnh cho cô gái bé nhỏ ấy. Được biết là Dung Hà có lo lắng cho mẹ con cô này, trước khi được trả tự do và sau đó chết thảm trong một vụ thanh toán giang hồ với tổ chức xã hội đen Năm Cam ở Sài Gòn.

Giàn phong lan được các tù hình sự cắt gọt từ vách Núi Mành vốn treo la liệt khi chuẩn bị đón đoàn tù thứ hai ở A 20 ra trại 5 này, các đoàn “tham quan” cũng đã hai ba lần vào ra xem xét. Tôi ngứa mắt bèn đào hố và xuống khu chăn nuôi heo gánh phân chuồng (đã rất hoai / phân hủy). Mấy tay an ninh trại cũng đành chịu vơí quyết định ương bướng của tôi. Tay quản giáo tên Nghị phàn nàn vơí tôi “Anh thật quá quắt! Giàn phong lan như thế anh cho mướp đắng vơí bầu leo lên thì còn gì là phong lan?”. Tôi trả lời nhã nhặng nhưng không kém cứng rắn:
- Chúng tôi cần sống! Tất cả những thứ anh em tôi trồng ngoài đội đều bị ăn cắp hết! Giờ tôi làm thế này, lan sống đươc thì càng đẹp, không sống được thì để chúng tôi sống!
Quản giáo Nghị ừ hử một vài câu rồi bỏ đi.

Giàn phong lan hai tháng sau thành giàn bầu bí và khổ qua dày đăc, trái ra cơ man nào là trái. Nhóm chúng tôi kéo chiếu xuống giàn mướp đắng. Không gian này vơí tôi thành chồng chất biết bao kỷ niệm.

Một lần Đỗ Bạch Thố tỏ ý muốn làm lễ giỗ cho ông Hoàng cơ Minh và anh em đã chết trong cuộc xâm nhập từ Thái năm 1987 (“Đông Tiến” 2). Đó là tuần lễ cuối cùng của tháng 8 năm 1996. Tôi nhìn Thố, nhẹ giọng.
- Cùm đấy bồ tèo!
Thố cười khoe đôi hàm răng đã bị đánh gẫy hơn nửa.
- Cùm thì cùm chớ ngại gì! Anh em họ cũng cần chút hương khói…
Mâm cơm cúng có một con gà luộc vàng lườm, có xôi trắng của Quang cho gạo, hai đĩa muối. Thố kêu tôi chủ lễ nhưng tôi từ chối.
- Ở đây chỉ ông có đủ tư cách chủ lễ!

Anh em về từ Thái có Bình là nhóm Đông Tiến 1 nhưng vì khi ở A 20 Bình có thời gian làm đội trưởng mội đội làm gạch, lại có một số vấn đề lớn còn khúc mắc trong giai đoạn xâm nhập cùng đoàn ông đại tá Dương văn Tư … nên chỉ có Võ Kỳ Phát và Đỗ bạch Thố là hai người của đoàn xâm nhập 1987 đang có mặt tại khu cách ly chính trị trại 5.
Nhóm Đông Tiến 3 ở khu nhà 1A (nhóm Trần quang Đô tức Đào bá Kế), mấy đứa em làm cách nào đó tôi không biết, chuyển được cho Thố chừng gần một xị rượu đế (cỡ 200ml).
Các đầu vụ đang có mặt tại khu cách ly đều biết giờ làm giỗ, hầu hết đều có mặt, chiếc cốc nhựa đựng cát sạch dùng để cặm chân nhang (do hình sự Nguyễn văn Linh tìm nhang bên khu nữ) khi tàn, tôi đếm là 22 gốc nhang.
Anh em từng người bái nhang, lâm râm khấn vái, lòng biết chắc là hôm sau sẽ to chuyện.
Ngày hôm sau thiếu tá Lâm an ninh trại ra lệnh tập trung toàn bộ tù ra từ A 20, lên hội trường họp.
Buổi họp được gọi là buổi kiểm xét đột xuất và vụ việc cúng giỗ ông Hoàng cơ Minh và đoàn quân xâm nhập từ Thái Lan 1987 đươc ông Lâm lên lớp tuyên giáo. Tôi yên lặng quan sát thái độ từng người vì biết chắc ông ta sẽ gọi một số người tiêu biểu (đã có ý quy thuận quyền lực nhà tù). Trù liệu của tôi xảy ra đúng y xì. Ông Phạm đức Khâm, ông Michel Nguyễn Muôn bị mời đích danh phát biểu. Khá bất ngờ là cả hai ông đều nói rằng việc đó là việc đạo nghĩa cá nhân của mỗi người, các ông không ý kiến. Tất cả những người cứng rắn đều ở tư thế chuẩn bị phát biểu, không khí bắt đầu căng thẳng...
Có lẽ chỉ muốn cho xong việc vì đây là thừa lệnh của cấp trên, nên thiếu tá Lâm sớm nói lời kết thúc. Khi nói lời kết thúc, miệng ông có khuynh hướng dòm vào chiếc túi áo ông ta… và tôi hiểu là ông ta nói cốt cho cái micro đang ẩn trong ấy nghe rõ.
Tôi nhìn anh Bàn. Anh Bàn chớp mắt nhẹ lắc đầu. Nhìn qua Trung, Trung đưa mắt sang anh Bàn. Tôi hiểu là không nên dồn Lâm vào đường bí nên im lặng không phát biểu.
Buổi họp kiểm xét xong, về buồng, hai sĩ quan cai tù vào tận chỗ Thố đề nghị Thố đi làm việc. Buổi chiều, mấy người hình sự được lệnh gói hết đồ đạc của Thố niêm phong lại và cho đem vào khu cùm duy nhất một chiếc chiếu đơn đã rách tơi hẳn một góc.
Đợt cùm này khởi đầu cho nguyên một mùa cùm của chúng tôi, Đỗ Bạch Thố, Nguyễn văn Trung lai, Trương văn Sương, Phạm văn Thành, Phạm Anh Dũng, Nguyễn Ngọc Đăng, Vũ Đình Thụy, Hoàng Xuân Chinh và người tù Fulro luôn có ánh nhìn căm thù tất cả mọi dạng người Kinh. Mùa gặt cùm này tôi bị kéo dài 7 tháng cùng với cái chết cô độc của Kstum!

* * *

Vì sự nhạy cảm của đội tù chính trị miền Nam đang có măt tại trại Lam Sơn, nhà tù phải cho các đội hình sự đánh xe bò để chở đá lớn từ ngoài trại, đem vào tận khu cách ly để tù chính trị lao động đập thành đá rải đường cung cấp cho bên công lộ.
Các anh tù miền nam ra từ A 20 chuẩn bị chỗ ngồi đập đá của mỗi người thành như những bộ ghế dành cho các sơn vương xa xưa thường ngồi ngự. Thái độ bất cần quyền lực của kẻ cầm quyền thể hiện rất rõ ràng. Phiá giám thị cũng chỉ coi việc đập đá của nhóm tù miền nam là việc hình thức để giữ thể diện nên không có chuyện gay gắt bắt phải chỉ tiêu này chỉ tiêu kia...

Thời gian này có một sự lạ, đó là sự xuất hiện của một ông quản giáo đã đứng tuổi thay cho Nghị. Nghi là thiếu tá, tuổi ngang với tuổi tôi (sanh khoảng 1960). Người quản giáo đứng tuổi cư xử rất nhẹ nhàng với nhóm tù miền Nam. Điều lạ là ông ta gọi khoảng một nửa số tù từ miền Nam đang có măt tại trại 5 Lam Sơn. Từng người một để “làm việc”. Ông ta kê hai cái ghế ở góc một khoảng đất mà anh em đang trồng rau. Nội dung các câu hỏi xoáy quanh lý do “phạm tộ” của người được hỏi. Thời gian xảy ra vụ án và số người bị lĩnh án. Các anh đa phần sau khi “làm việc” đều thông báo chi tiết các nội dung cho tôi qua hai cầu nối là anh Bùi thúc Nhu và anh Trần Nam Phương. Nhóm tham mưu gồm Hoàng xuân Chinh, Trần minh Tuấn,Trần nam Phương, Nguyễn văn Trung, Nguyễn văn Bảo, Phan văn Bàn, Dương văn Sĩ, Lê thiện Quang, Lê ngọc Vàng, Phạm anh Dũng và tôi mỗi 4 ngày đều có một buổi trưa bàn thảo từng câu hỏi đã được đặt ra. Sau hai tuần, chúng tôi đều chung một nhận định rằng sự kiện tù A 20 là một sự kiện đã gây sự ngạc nhiên lớn lao cho tầng lớp quân cán chính tại toàn vùng Thanh Hoá. Ông Nguyễn văn Bảo nói.
- Ngựa đã sang sông! Ít nhất chúng ta đã làm được một nhiệm vụ. Đó là đánh tiếng cồng tranh đấu vang vọng vào tâm trí đồng bào của chúng ta ngay nơi vùng đất đã đẻ ra chế độ! Người có ý thức của miền bắc sẽ được hiểu là cuộc tranh đấu chống lại chủ nghĩa cộng sản chưa bao giờ dừng lại tại miền nam, dù đã phải trả những cái giá cực kỳ thảm khốc!
Ông Bảo là người nhỏ con nhất trong đoàn tù từ nam ra bắc năm 1995. Thân mình nhỏ nhưng cái đầu của vị giáo sư trung học VNCH này là cực kỳ cứng rắn và sắc bén.

Người quản giáo đứng tuổi đến với đội tù A 20 được chừng hơn một tháng thì xảy ra chuyện.
Hôm ấy tôi và Nguyễn văn Trung đi cùng người quản giáo này để mượn hai tấm ky khênh đá (bện bằng tre nứa đã đập dập luồn vào hai đòn cáng, dùng để hai người khênh đất hoặc đá cho xây dựng hoăc đào ao). Ky là mượn của đội “quá đà” - tức đội của Đào bá Kế. Không biết Trung đi lấy ky thế nào mà tên quản giáo của đội Đào bá Kế văng tục gián tiếp với Trung. Y đối đáp với viên quản giáo của đội chúng tôi đại khái là “ĐM, giã nhừ chúng nó ra, viêc đ... gì phải nhân nhượng”! Trung vác tấm ky lên chỗ tôi và mấy anh em đứng đợi, mặt tái đi. Trung là người mang hai dòng máu Pháp Việt, cao mét tám da trắng mũi cao đặc thù. Làn da trắng này khi giận là biến thành như xanh tái. Tôi đến gần ý muốn hỏi chuyện gì. Anh nói ngay.
- Không xong rồi! Thà là nó nói hẳn sau lưng mình! Chứ nó nói cố ý cho mình nghe … thì không xong!
Tôi đỡ một đầu tấm ky, nói với Trung.
- Ra đội đã anh Trung! Gì cũng phải bàn bạc nhau cái đã …
Từ bìa trại ra đến khu vực đội làm rau tự túc của nhóm tù từ nam ra trại 5 chỉ chừng 15 phút. Đội nằm bên một cái ao rộng, có ba bốn cây mít cổ thụ gốc hàng hai người ôm. Bờ giếng sạch và nước rất trong mát. Một hàng dừa khoảng 30 cây chạy chung quanh bờ ao sát vời cánh đồng cấy lúa quanh năm, được dẫn nước từ con đập mà tù đã đắp suốt nhiều năm để ngăn chuyển dòng nước sông Cầu Chày.
Bên những gốc dừa vừa được kê đá thành các chỗ ngồi để đập đá lớn thành đá dăm nhỏ. Quyết định đòi phải có sự đối mặt vơí quản giáo đội “quá đà” để hỏi rõ nội dung câu nói “gĩa nhừ” là nhắm vào ai? Nếu là nhắm vào đội tù từ A 20 thì nguyên cớ từ đâu?
- Nó là đòn nắn gân! Ta không phản ứng thì trưóc sau chúng cũng sẽ xếp ta ngang hàng với bên đội “quá đà”, tức là chúng mặc nhiên coi chúng ta là “phỉ”. Hoạt động phỉ!
Chinh nói dõng dạc và Tuấn đóng đinh đề tài bàn luận.
- Ngay sau đây, anh Vàng đại diện đội nói rõ ràng ý kiến của anh em với quản giáo, rằng chúng ta không chấp nhận câu nói ấy của một quản giáo nhà trại. Chúng ta cần sự minh bạch của câu nói đó! Để tỏ thái độ, bắt đầu từ chiều nay chúng ta sẽ phản đối việc lao động cưỡng bức. Đồng loạt không đi làm!
Vàng nhìn một lượt, thấy sắc mặt mọi người đều đanh lại hoăc cười nửa miệng, anh biết là không thể bàn lùi được. Vàng xoay người, đập đập chiếc mũ vải trên tay bước đi về phiá nhà lô (tức là nhà trực của quản giáo và bảo vệ vũ trang của mỗi đội tù).

Chừng 10 phút sau, người quản giáo đứng tuổi xuống tận gốc dừa nơi anh em đang ngồi uông trà. Ông muốn câu chuyện được chấm hết ở đây và ông nhấn mạnh rằng câu nói đó chỉ là một sự ngộ nhận. Nửa giờ đồng hồ nói chuyện qua lại, hai bên không có được điểm đồng thuận. Đội giữ nguyên quyết định chiều sẽ không xuất trại lao động.

Buổi trưa, một cuộc bàn thảo diễn ra dưới giàn khổ qua, quyết định sẽ xếp hàng trong sân khu cách ly. Đúng khi quản giáo và trực trại mở cổng để xuất khu, một ngươì sẽ đứng ra xác định thái độ bất tuân quyền lực nhà trại về việc lao động để bày tỏ sự phản đối thái độ của quản giáo đội “quá đà”. Yêu cầu tiến hành cuộc đối mặt công khai giữa đội tù từ A 20 và quản giáo đội quá đà! Người đứng ra xác định quan điểm ấy là tôi.

13 giờ, dưới cái nắng gay gắt. Khi quản giáo và quản chế vũ trang mở cổng, không khí khác thường thấy rõ. Bên cạnh viên quản giáo là hai người thượng tá phó giám thị. Quản chế súng dài bốn hay năm người đứng chắn ngang ngoài cổng khu. Đội đứng im sau khi anh Vàng báo danh số người hiện diện. Tôi tách hàng hai mét. Nói đủ lớn để tất cả mọi người đủ nghe từng câu từng chữ. Nội dung xác định việc bất đồng quan điểm đối vơí thái độ phát ngôn của viên đại úy quản giáo đội quá đà, đồng thời yêu cầu phải trực tiếp đối mặt với viên đại úy đó để làm rõ ràng về nội dung lời đã phát biểu!

Dứt lời, tôi bước ngang hẳn bốn mét rời khỏi hàng chính thức của đội và yêu cầu những anh em nào đồng ý vơí sự phát biểu phản đối lao động mà tôi vừa đại diện trình bày, thì bước hẳn sang hàng phiá trái (tức hàng tôi đang đứng), anh em nào không đồng ý vơí sự phát biểu của tôi thì đứng nguyên hàng và xuất trại đi lao động bình thường.

Không khí đấu tranh quyết liệt hiện lên rất rõ ràng. Ba phần tư tách hàng đứng về phía bên trái. Viên phó giám thị mặt lạnh như tiền, bảo những anh em đồng ý xuất trại lao động xuất cổng. Cổng đóng lại sau khi các anh em đồng ý xuất trại bước hết ra sân ngoài.
Những người giám thị và quản giáo, trực trại, an ninh, giáo dục … không ai nói gì, quay đấu hướng về lầu giám thị. Anh em vừa tách hàng đứng ra bên trái tách nhanh, ai về tụm ấy. Ai cũng hiểu cái giá sẽ giáng xuống anh em sẽ xảy ra trong vài giờ tới.
15 h Hoàng xuân Chinh bị mời ra lầu giám thị làm việc.
16 h Vũ đình Thụy được mời đi.
17h30 Nhóm tù hình sự được lệnh gói tư trang của anh Thụy và anh Chinh niêm phong.
18h30 BÁO ĐIỂM DANH NHẬP BUỒNG. THỤY VÀ CHINH KHÔNG THẤY ÁP GIẢI VÀO KHU CÙM. Nghĩa là đi đâu không biết!

Không khí có vẻ khó thở, vì bản thân chúng tôi không có ai biết rành rẽ từng phân trại ở đây, chỉ mơ hồ nghe về Khu C, được gọi là K Chết, tức là khu trại gốc của thời Lý Bá Sơ, nằm hẳn sát vào bìa núi phía sau hẳn hai cánh đồng mà đội chúng tôi hằng ngày đập đá bên cạnh.
Buổi tổi tôi trao đồi với anh Dũng.
- Trận này sẽ rất căng. Ta cần người không bị dính gì đến qui chế kỷ luật để thông tin ra bên ngoài nên anh cần phải đối lập vơí em …
Dũng gật đầu, bảo anh biết rồi!
Quay sang Thố, tôi định nhờ Thố chuẩn bị một túi cói cho tôi, trong đó có những thứ thiết thân là bàn chải đánh răng và thuốc phong thấp. Tôi chưa nói thì Thố đã bảo “xong hết rồi”. Thố vừa ra buồng cùm sau 2 lệnh, người như một con cá cơm khô đét!
$pageOut
$pageIn2


Tháng 11 trời đất bắc đã rét ngọt, tôi bước ra sân điểm danh với hai bộ quần áo trại mặc chồng lên nhau, dự phòng khi họ đưa vào buồng cùm thì với hai lớp quần áo, dù là áo trại mỏng lét, vẫn còn hơn là một bộ sơ sài.
Giờ điểm danh 6h sáng không khí trĩu nặng. Màn sương mù làm mọi thứ như càng trĩu nặng hơn. Việc hôm qua họ đưa Chinh và Thụy đi biệt tích là một sự việc nằm ngoài trù liệu của tất cả chúng tôi. Với suy nghĩ rằng họ rất ngại phân tán chúng tôi ra các trại hoặc phân trại khác, vì sợ dân chúng chung quanh sẽ ngày càng biết về sự hiện diện của đoàn tù miền nam chúng tôi, vốn dĩ chính là hình ảnh phản kháng quyết liệt của miền nam đối vơí điều mà họ thường rêu rao là thống nhất bắc nam trong hạnh phúc và mơ ước của dân chúng miền nam. Điều này, trong tất cả những cuộc thăm gặp thân nhân, những buổi áp giải ra đội lao động và qua sự nghiêm ngặt cấm triệt để mọi hình thức tiếp xúc của các tù nhân hình sự khác… cho chúng tôi hiểu rõ sự sợ hãi này của họ.
Việc « ông » quản giáo đứng tuổi được đưa vào quản đội, mà qua chỉ một vài câu hỏi với quản giáo Nghị cùng sĩ quan an ninh, giáo dục … chúng tôi hiểu ngay được là một sự việc bất thường. Thứ nhất là vị ấy đã cao tuổi. Thứ hai là thái độ nhã nhặn đăc biệt và thứ ba la thái độ khoảng cách đăc biệt của những sĩ quan cấp tá vừa lên bậc (tuổi ngang ngửa với tôi đang nắm an ninh, giáo dục, trực trại, quản giáo … của trại này). Khoảng cách ấy cho chúng tôi hiểu là người quản giáo già KHÔNG PHẢI NGƯỜI CỦA TRẠI NÀY.
Thái độ hỏi han, tình tiết hỏi han của ông ta lại càng chứng tỏ không phải là của công an quản giáo chuyên nghiệp. Quản giáo chuyên nghiệp họ biết rõ họ được hỏi người tù chính trị về những điều gì và những phạm trù nào họ không được đụng đến hoặc tránh hẳn không muốn đụng đến.

Bằng cách dọ hỏi gián tiếp thêm qua 8 đưá hình sự ở chung (đều là nhân lực được gởi gấm của đội ngũ giám thị) chúng tôi lại được biết vị quản giáo này MÀY TAO với giám thị trưởng Phạm Ninh. Với tôi thế là đáp án đã được mở, khi liên hệ lại hành trạng khác thường của giám thị Ninh lúc tôi mới đến trại.
Lần gặp gỡ bất thường ấy chỉ có tôi và ông ta trong khu cách ly (điều này hoàn toàn không bình thường và trái nguyên tắc, vì theo thông lệ, luôn luôn có hai sĩ quan bảo vệ đi kèm giám thị trưởng khi giám thị trưởng bước vào không gian sinh hoạt của phạm nhân, nhất là là những phạm nhân được đánh giá là đăc biệt nguy hiểm).
Lần ấy sau khi ông nhắc đến việc ông từng có mặt tại chiến trường Khe Sanh và An Lộc thời 1967 / 75 ông trầm giọng nói vơí tôi câu nói đặc biệt « Tôi xuất thân là một người lính và đến chết vẫn là một người lính. Hãy nhìn tôi là một người lính ». Lần ấy ông kín đáo ghi âm trọn vẹn buổi nói chuyện đã diễn ra. Tại sao ông đã phải gặp tôi như vậy thay vì gặp ngoài nhà làm việc (mà các phòng đều có hệ thống ghi âm)?
Những câu trao đổi qua lại cũng nằm ngoài phạm vi trách nhiệm của một giám thị trưởng. Những câu hỏi đều dẫn đến mục đích để biết tận tường rằng tôi có thật sự là Phạm văn Thành hay không, với những tình tiết nhân thân đăc biệt mà nếu không đúng là tôi (với giai đoạn tuổi thơ đăc biệt), sẽ không ai trả lời được.
Qua những câu hỏi đó, tôi hiểu được là phiá giám thị Ninh đã có những thông tin riêng về hoàn cảnh gia đình của tôi mà chắc chắn đã phải có người tiếp xúc đến tận làng quê của tôi, với những thân nhân còn sót lại và với cả những đứa bạn thân tôi thủa niên thiếu. Những đứa bạn tôi đã bằng mọi cách dấu biệt các sự liên hệ khi quyết định lao vào cuộc chơi sinh tử với nhà cầm quyền cộng sản. Những sự điều tra về nhân thân, chắc chắn phiá an ninh chính trị điều tra bên A15, A16 và A24 đã làm chi tiết, nhưng phiá V26 thì chắc chắn không thể có được những tình tiết ấy nếu không có một « đường chuyển » đặc biệt.

Những điều vị quản giáo già quan tâm dò hỏi các anh của những vụ trọng án đang sống trong khu cách ly đều xoáy vào một chủ đích: Tìm ra nguyên nhân, thời gian và nhân lực đã tiến hành các vụ bạo kháng. Điều này nằm ngoài hẳn chức năng và quyền hạn của một quản giáo trại tù. Tất cả các câu hỏi đều được hỏi giữa … vườn rau, nơi không thể có một thiết bị nghe nhìn nào có thể cài cắm!
Điểm danh được chừng 30 phút, Trần minh Tuấn marathon đụng đầu tôi vòng thứ nhất, nói vừa đủ tôi nghe: « Đợt này anh đi một mình, tôi ở ngoài … ». Lời nói ngắn cụt ngủn nhưng đủ để tôi hiểu rằng Tuấn e ngại việc thông tin không ra khỏi trại được nên quyết định ở vòng ngoài cốt để tìm cách chẻ thông tin về cho gia đình, thân nhân. Một cảm giác ngậm ngùi lan tỏa trong tôi, vì tôi biết, sở trường này không phải của các anh, nơi xứ sở hoàn toàn lạ lẫm và cô độc này. Chọn lựa của Tuấn chắc chắn phải là một chọn lựa không hề dễ dàng, khi hầu hết những người đứng tách hàng hôm qua đều là những người đã từng sát cánh với anh trong tất cả những cuộc « hành trình cùm kẹp », từ ngày có vụ làm tờ báo Hợp Đoàn của A20 do ông Vũ Ánh khởi xướng thời thập niên 1980. Sáng hôm qua, khi anh đứng nguyên bên “hàng thuần phục” chờ xuất trại, tinh mắt sẽ nhận thấy hai đầu gối của anh có những lúc như run rẩy. Trạng thái này không qua mắt được Hoàng xuân Chinh, vốn xuất thân từ một gia đình chuyên bắt mạch, bốc và sắc thuốc Nam.
Tôi bước marathon vòng thứ ba thì ông Sơn chặn tôi lại. Ông Lê văn Sơn đã gần 70, là một nhân sĩ Phật Giáo Hòa Hảo. Ông hỏi ngay.
- Liệu chịu được không Thành? Chắc chắn sẽ rất lâu đấy!
Tôi đáp là tôi nghĩ đủ sức chịu đựng. Ông cầm lấy bàn tay tôi bảo xòe ra rồi đặt vào vỉ thuốc Bi Profenid. Vỉ thuốc tôi mới chia ra đưa cho ông hai tuần trước, khi thấy đầu gối của ông sưng to không đi được. Vỉ thuốc còn 8 viên, nghĩa là ông uống thấy bớt đau nên giữ lại để dành. Tôi cau mày nói với ông là uống thuốc như vậy không hạ đau được bao lâu. Thuốc tôi đưa là để ông uống 7 ngày liên tiếp. Đây là thuốc tôi phải nhịn nhục nài nỉ họ (giám thị trại tù) mới chịu đưa. Họ cũng biết là tôi lấy để chia cho anh em chứ chẳng phải giữ cho riêng mình làm gì. Tôi nói ông Sơn nhận lại mà ông nhất định không nhận. Tôi đổ quạu sau khi nói rằng tôi vẫn còn đủ cho tôi. Tôi nói.
- Họ không thể để em chết! Anh phải biết là như vậy! Các anh có thể chết nhưng em họ không thể để cho em chết!
Thấy tôi quạu, ông Sơn bãn lẽn cầm vỉ thuốc nhét vào túi chiếc áo nâu đà đã bạc phếch. Đôi mắt già nua chớp chớp nhìn lên trời …
7h đội xếp hàng chờ xuất cổng. Vẫn hai hàng cách biệt. 2 phía 2 thái độ chống đối và an phận đã hiển lộ tỏ tường.
Cổng khu cách ly mở. Tiếng sợi dây xích vừa được bổ xung thêm đêm qua được cố ý kéo qua các thanh sắt nghe rất khó chịu. Khoảng 6 người bước ra cổng, trong đó có Lê ngọc Vàng là đội trưởng và sát ngay Vàng là Trần minh Tuấn. Mặt Tuấn lạnh lùng không cảm xúc.
Cổng đóng lại với những vòng xích sáng loáng.
Khoảng 9h Trương văn Sương được gọi đi làm việc. Anh đi ra khỏi cổng, giọng cười ặc ặc cố hữu khi bước ngang cửa buồng tôi. Anh đi chân đất, tướng pháp lềnh khênh với mái tóc muối tiêu hớt carré cứng cỏi.
Khoảng 10 h, tư trang của anh Sương được niêm phong. An ninh và hai người thi đua (5) áp giải anh vào khu cùm cuối trại, sát phần chuồng heo và nhà bếp, ngăn cách với nhà 4 nữ, kế cận « giếng tiên » (6) .
Khoảng hơn 10 h, Nguyễn văn Trung (Trung lai) được mời đi ra lầu giám thị. Trung đi rồi tôi nói với cư sĩ Trần nam Phương: « Ta tiến hành chuyện bộ lòng thôi! ». Phương thảng thốt nhìn tôi, ý như không muốn nghe rõ. Tôi lập lại lần thứ hai: «Ta chuẩn bị thôi anh »! Phương ngần ngừ, hai tay xoắn xoắn vào nhau. Tôi cứng giọng, từng tiếng một « Em có làm sao sẽ đều là do khâu sát trùng… ». Phương ù ừ rồi đi nhanh ra phiá sau, nơi gốc mướp có anh Phan văn Bàn đang quạt bếp than nấu trà.
Việc này chúng tôi đã bàn rất kỹ. Anh Kim Long đã chỉ dẫn tôi rất chi tiết thủ thuật rạch bụng moi ruột ra mà không chết. Con dao làm từ chiếc liềm cụt nhặt ngoài đội đã đưọc anh Bàn đàn qua lửa than đá thành một ngọn dao lá cực sắc và cất dấu ở đâu đó. Nơi tôi mổ bụng sẽ là chỗ nằm của tôi, sát bên chỗ nằm của tu sĩ Mai đắc Chương và Trần nam Phương. Điều kiện thiết yếu là nền đá phải cực sạch. Đìều này Phương phải chịu trách nhiệm. Lần thử sau cùng bằng mực hạt mồng tơi, tôi đã làm rất nhanh và chính xác. Lần ấy anh Long nói.
- Đây là việc đối đế mà chỉ có Thành làm được. Anh em nội địa mà làm thì chúng sẽ để cho chết luôn. Chúng sẽ không tận lực đưa đi bệnh viện khẩn cấp. Từ đây ra bệnh xá Sao Vàng chừng nửa tiếng. Đến đó được là sống. Từ đó chúng sẽ đưa ra bệnh viện huyện Thiệu Yên rồi sau đó ra Thanh Hoá. Điều cần yếu là phải giữ thật sạch bộ lòng của Thành!
Lần thực tập « giả đò» đó, anh Bảo là người phản đối. Anh vốn người hiền lành nhân đức, từ bé đến già chưa từng chặt chân hay cắt tiết một con gà. Anh nói.
- Mấy cha bạo lực quá! Anh không đồng ý đâu!..
Anh Long nói rất cứng: « Tôi bảo đảm hắn không chết! Một là hắn rất tỉnh táo, không run tay. Hai là …tử vi hắn còn sống lâu »!
- Chuyện tử vi thì anh không bàn. Nhưng chuyện máu me thì anh không muốn! Rồi còn thày Chương nữa. Máu me lênh láng ra chỗ ổng nằm, ám ảnh người ta suốt đời…
- Tôi là tôi không chịu! Nhất lại là máu anh em mình!
Anh Bảo kết câu chuyện bằng thái độ vùng vằng rồi bỏ đi, ra tận góc thật khuất của mấy luống khoai môn Tuấn trồng, ngồi một mình.
Anh em ba người tiếp tục bàn thực hiện ý định còn Trần nam Phương, anh Long và tôi. Phương nhặt được một chiếc liềm cụt -dấu trong háng- mang được vào buồng đưa anh Bàn, bảo anh Bàn lấy nó làm con dao thật bén vì Thành nó cần. Việc này anh Bàn chỉ biết đến vậy. Con dao cũng được dấu riêng biệt và hàng tuần được Phương nhắc để anh Bàn kín đáo đem ra nướng than lại. Một cái chậu nhôm cũ đã được Phương mua lại của ai đó rồi đánh cát đánh tro cực kỳ cẩn thận treo trên giàn mướp. Có mấy lần anh Sương lấy chậu ấy đựng rau, bị anh Phương la như tát nước! Chả ai hiểu cái chậu ấy có điều gì quái gở mà Phương không cho bất kỳ ai đụng đến, thậm chí cả anh Bàn. Chỗ nằm của tôi bên thày Chương và anh Phương được Phương nhúng nước sạch lau bóng mỗi buổi trưa. Thày Chương thấy lạ mấy ngày đầu nhưng rồi cũng quen đi …
Giờ là lúc thực hiện. Phương bần thần xách nước vào chỗ nằm của tôi, lau rửa cực kỳ cẩn thận. Cái chậu nhôm được mang vào. Thày Chương ngồi trên võng, tay cầm cỗ tràng hạt …
Có tiếng gõ cổng sắt khá lớn, tôi nhìn ra không thấy cán bộ nào cả. Chỉ thấy ông Quý với Kiên hình sự đang đứng sát cổng. Ông Qúy ngoài 70, người Cao Đài, nguyên võ sư, hay cầm đá đứng gần cổng sắt, gặp cán bộ đi ngang ông ném thẳng cánh. Đá chưa bao giờ trúng đích vì các chấn song của sắt thường làm lệch mục tiêu.
Chừng 10 phút sau cổng khu cách ly mở. Kiên thoát ra ngoài. Cũng chừng 10 phút sau Huy giáo dục đi vào buồng tôi hai ba vòng rồi đi ra. Huy ra rồi trực trại vào hỏi tôi ở đâu. Tôi đang ngồi chiếu sau hè với anh Long.
Huy yêu cầu tôi ra ngoài nhà cơ quan làm việc. Lúc này đã gần trưa. Việc này bất thường. Khi tôi ra khỏi cổng khu cũng là lúc Trung được dẫn vào sân trại, men theo tường bên khu nữ để vào nhà cùm. Hình như họ cố ý cho tôi nhìn thấy Trung bước hẳn vào nhà cùm.
Tôi được dẫn lên lầu trực trại thay vì ra ngoài khu nhà cơ quan. Thiếu tá Hùng ngồi chờ tôi sẵn. Đây là trưởng giáo dục toàn phân trại, đồng cấp với một người cũng tên Hùng nhưng mang họ Lê Khả. Lê Khả Hùng cao ráo trắng trẻo mặt sáng, khác với ông Hùng này, xạm đen và lời nói thoát ra từ hai hàm răng lúc nào cũng như muốn khít chặt.
Hùng kêu tôi ngồi ghế đối diện. Mặt Hùng như phảng phất một làn sát khí. Tôi ngồi xuống ghế, lòng nghĩ thầm « rõ thật là dở hơi ».
Hùng chằc hơn tôi một hai tuổi, thái độ của người lúc nào cũng thấy mình là quan trọng. Kiểu cách nói luôn như muốn lên gân để chứng tỏ quan điểm và vị trí. Ông hỏi ngay khi tôi đã ngồi hẳn xuống ghế.
- Nghe chừng như là anh lại muốn làm loạn?

Tôi khá ngạc nhiên, không nghĩ là mình sẽ phải nghe câu hỏi này với thái độ này. Với tôi, Hùng không là gì cả. Ở trại này tôi chỉ nể giám thị trưởng Phạm Ninh. Nể không phải vì tài cán hay quyền lực mà nể vì cái tính lính tráng của ông ta. Từ ngày vào trại, tôi biết rất rõ ngay đến giám thị cũng không có quyền hạch sách điều tra tôi, vì tất cả các cuộc « làm việc » từ ngày tôi ra đây, toàn do từ “trung uơng” về làm, và người khét lẹt nhất là đại tá mật vụ La văn Tiếp, khi làm việc cùng tôi cũng không dấu được nét e ngại. Vậy hà cớ gì ông thiếu tá này xử dụng thái độ quyền lực với tôi, một thái độ mà cánh trung ương đã có kinh nghiệm và hiểu rất rõ sẽ là vô giá trị đối với tôi, từ ngày còn ở A20 Xuân Phước!

Tôi bình tĩnh nhìn thẳng vào mắt Hùng. Ông ta cường liệt đối mắt lại. Trong vài giây như vậy, tôi hiểu được là ông ta thực sự đang nghĩ mình là người mang chính nghĩa. Đây là đởm lược chỉ những người đang nghĩ mình đích thực là chính nghĩa mới mang được tia mắt ấy. Tôi nhẹ giọng.
- Ông nghĩ thế nào là làm loạn?
- Chúng tôi nuôi các anh không thiếu thứ gì. Ở đây các anh có tất cả. Các anh còn đòi gì nữa?
- Danh dự! Các ông có thể tước đoạt quyền tự do của chúng tôi nhưng các ông không tước đoạt danh dự chúng tôi được nếu chúng tôi cương quyết gìn giữ! Chúng tôi cũng không cần các ông nuôi. Các ông không hiểu gì về công pháp quốc tế về quyền dân chủ chính trị nên các ông bắt bừa chúng tôi vào tù …
- Anh biết thế nào là dân chủ? - Hùng ngắt lời tôi, sẵng giọng, lưng hơi dựng thẳng lên thoát khỏi lưng ghế.
Tôi cố giữ giọng nhẹ nhàng.
- Dân chủ là người dân có quyền nói lên tiếng nói của họ. Người làm chính quyền nếu không được lòng dân, phải bị bãi nhiệm …
- Các anh nói các anh có thể bãi nhiệm được chúng tôi à? Anh điên khùng hay ảo tưởng? Dân ở Việt Nam đều là của chúng tôi. Tất cả đều cần chúng tôi... Các anh là một lũ ất ơ, tháo chạy ra khỏi nước rồi giờ về đòi chúng tôi chia quyền. Đừng mơ! Hiaz! Đừng mơ mộng hão huyền …
Tôi thấy không thể nói chuyện tiếp tục với tay thiếu tá này. Cái đầu này đã đóng đinh vào những giáo điều và càng nói, sẽ chỉ càng gây tức giận thêm cho cả hai người. Tôi quyết định chọn thái độ im lặng.
Ông Hùng nói khá nhiều về dân chủ và hai ba lần hỏi hằn học lại tôi rằng « …các anh nghĩ chúng tôi sẽ cho các anh chia quyền à …». Thấy tôi không phản ứng gì, cũng không lên tiếng phản bác, ông chuyển sang một câu hỏi khá « ngoài luồng ».
- Anh nghĩ thế nào về bác Hồ?
Tôi khá bất ngờ vì câu chuyện bị quẹo cua quá gấp.
Dựa hẳn lưng vào ghế, tôi từ tốn đáp.
- Ông chắc có đọc Ngục Trung Nhật Ký?
- Đọc chứ sao lại không?
- Ông chắc hẳn có đọc Vừa Đi Đường Vừa Kể Chuyện?
- Đọc! – Hùng có vẻ khó chịu khi tôi hỏi thay vì trả lời. Ông dằn cốc nước trà trên mặt bàn gỗ lim bóng loáng. Tôi nhìn theo cái đà dằn của đáy cốc để tìm xem nội lực hàm chứa của Hùng đến đâu. Thấy cũng tầm thường nên tôi hỏi tiếp.
- Chắc cán bộ biết nhà văn Trần Dân Tiên?
- Biết!
- Chắc cụ Trần Dân Tiên có nhiều tác phẩm giá trị?
- Ừ, tôi nghĩ vậy!
- Cán bộ có biết bác Hồ có người con gái ở Pháp không?
- … Anh định láo toét với tôi đấy à?
– Tôi vẫn bình tĩnh hỏi tiếp, chậm rãi.
- Cán bộ có biết ông Hồ Học Lãm không?
- Không! Chỉ nghe qua thôi!
- bác Hồ là một nhân vật lịch sử còn bị bao trùm bởi nhiều điều huyển bí …
- Các anh chỉ là những người ăn càn nói bậy! Các anh xúm nhau đi bôi bác bác Hồ, lại còn nhận mình là người yêu nước. Nói tóm lại cho các anh hiểu nhá. Chỉ có bác Hồ là người yêu nước! Chỉ có bác Hồ mới có thẩm quyền nói đến bốn chữ “danh dự dân tộc”! Còn thì các anh nhá... Quên đi!

Tôi lại ngồi thinh lặng, mắt thỉnh thoảng nhìn thẳng vào mắt Hùng. Hùng không bao giờ né tránh ánh mắt tôi nên có thể nói hai người những năm sáu lần “đấu võ mắt” với nhau. Lần nào tôi cũng là người làm hoà trước, nghĩa là hướng tia nhìn ra khỏi tầm sát phạt trực tiếp. Tôi không sợ, nhưng biết là thắng thua không ích gì, chỉ thử lửa với nhau để hiểu nhiệt tâm của của nhau đến đâu mà thôi.

Có tiếng mở cửa. Tôi không quay lại. Hùng đứng lên, khom người chào người mới vào. Tên ông là Vân. Hùng gọi là Ban Vân.
Ông Vân mang hàm thượng tá, người cao ngang ngửa tôi, tướng pháp sang cả, trắng hồng, không có bụng như đa phần đám thượng tá đại tá từ trung ương vào. Ông chào tôi rồi kéo ghế ngồi.

Ông Hùng hỏi lại câu nói ban nãy.
- Anh định làm loạn nữa phải không?

Tôi đã thấy cần phải cứng rắn, nên nhìn trực diện vào con ngươi Hùng.
- Loạn hay không, tùy các ông thôi!

- Anh nghĩ là ở đây, trại 5 này … mà anh có thể đứng giữa sân quát tháo đòi tự do đòi nhân quyền cho các anh như ở Xuân Phước được à! Gô cổ anh lại ngay chứ lỵ …!

Tôi không nói gì, vẫn điềm nhiên bám sát con ngươi của Hùng, Hùng đứng lên, vung tay áo như làm cho dãn xương cốt. Ông Vân vẫn không nói gì.

Khoảng ba bốn phút sau lại có tiếng gõ cửa rồi tiếng Lâm an ninh bảo “đã xong rồi “!. Ông Vân đứng lên bước ra ngoài phòng.
Lâm cầm tờ giấy có dấu đỏ nói với tôi.
- Anh Thành. Ban giám thị quyết định kỷ luật anh vì lý do anh có ý đồ tổ chức gây rối loạn sinh hoạt trại. Giờ mời anh theo chúng tôi!

Tôi bình thản đứng lên, đẩy ghế lại dưới bàn và nhìn Hùng.
- Chào cán bộ!

Hùng chắc có phần ngạc nhiên vì thái độ nhẹ nhàng của tôi, lại thấy tôi không hề có phản ứng gì khi biết mình bị kỷ luật (nghĩa là bị cùm chân như giam một con mãnh thú). Ông bật ra một câu gần như vô nghĩa “… con gái tôi nó học tiếng Pháp, năm nay là đầu trường đấy …”. Tôi bất chợt nghe chùng lòng xuống. À thì ra, đám đàn ông chúng ta đều có chung một cảm xúc, đó là đều rất thương yêu con gái mình, thường là thương hơn những thằng con trai, lo lắng hơn, hãnh diện cũng hơn … Ở Thiệu Yên Thanh hoá mà học tiếng Pháp, gần như là một điều gì đó có thể được hiểu là văn hoá văn minh, hơi khác với chỉ học Anh ngữ hoăc Hoa ngữ. Tôi nhẹ giọng.
- Vâng, con cái, nhất là con gái … chúng là cả cuộc đời của chúng ta!
Giọng tôi có lẽ có một thang âm bất thường nào đó nên trên khuôn mạnh luôn cố làm ra lạnh lùng quyền lực của người sĩ quan giáo dục bỗng thoáng hiện một nụ cười chất phác. Trong câu nói như khoe ban nãy, có lẽ ông cũng hiểu là gần như sẽ không có cơ hội gặp và trao đổi đối thoại với tôi lần nữa, mà tôi lại là người ở xứ Pháp xa xôi lần về. Ông khoe con gái học tiếng Pháp, gần như là một sự vô tình, đối với một người từng ở Pháp nhiều năm... phản ứng như vậy là phản ứng của một con người rất người, còn cái gốc nhân bản từ trong vô thức …
Tại sao chúng ta lại là kẻ thù của nhau nhỉ?!

Tôi đi theo Lâm, lòng miên man nghĩ về người nào đó là con gái của Hùng. Chắc phải là một thiếu nữ sang và đẹp. Bởi không, chắc sẽ không chọn ngôn ngữ Pháp làm hành trình sự nghiệp ở cái xứ sở cực nhọc vốn đang bật dậy tìm cách thoát nghèo này …

Hai người tù thi đua và sĩ quan trực trại đi bên tôi qua hết chiều dài sân trung tâm (cỡ bằng một sân bóng) rồi vào khu cùm. Từ cổng của nhà cách ly, anh em lố nhố đứng đầy chiếc cổng hẹp, đưa tay vẫy vẫy. Tôi nhướng mắt nhìn vào trong nhà, các ô cửa sổ gần phía sân trung tâm dầy đặc những cái đầu của anh em ra từ A20 Xuân Phước. Tôi nắm hai tay kiểu chào của Việt Võ Đạo lạy chào lại anh em. Cảm giác của tôi là sẽ phải xa các anh mãi.

Khu cùm xây cao hẳn lên trên một bệ bê tông cao gần đầu người. Khoảng 10 buồng đều quay hướng bắc, nghĩa là nhìn chòng chọc vào khu nhà 4 B Nữ. Bờ giếng rất rộng của khu nữ nằm chỉ cách “lầu cùm” khoảng 8 thước. Đám tù lưu cữu gọi cái giếng này là giếng tiên. Vì trại này, 1995 đổ về về trước, nam nữ hầu như tắm đều cởi chuồng, vì đa phần đều nghèo khó.

Bước vào hẳn khu cùm, thiếu tá Lâm yêu cầu tôi đứng nghiêm để nghe đọc lệnh kỷ luật. Người ký lệnh kỷ luật là thượng tá Vân (họ gì tôi đã quên rồi).
Lệnh đọc xong Lâm lùi ra ngoài khu cùm. Sĩ quan trực trại cùng hai tù thi đua kè tôi lên những bậc thang. Khi đã đứng hẳn trên thềm hành lang tôi đưa mắt nhìn toàn cảnh để nhận rõ vị trí của mình. Mắt tôi đụng phải khoảng 10 tấm lưng trần đang ngồi xúm vào nhau quay lưng về phía tôi và người cán bộ. Họ đều không mặc quần áo và đang xối nước tắm, có những tấm lưng trắng hồng


Trực trại dẫn tôi vào buồng số 5. Cánh cửa gỗ lim dày làm tôi có cảm giác dễ chịu khi liên tưởng lại tất cả các buồng cùm ở B34 và A20, vốn đều làm bằng sắt và gờ tường cũng là sắt thép. Âm thanh của sắt thép va đập mạnh gây rất khó chịu cho người cùm ở bên trong, vốn chỉ có một lỗ thông hơi chừng 15, 20 phân vuông.
Vào hẳn buồng, tù thi đua yêu cầu tôi lột hết quần áo. Hai ngươì nặn kỹ cả chim cò và nắn cả vào hạ môn. Tôi nói nhỏ “ không có gì đâu mấy anh, bất ngờ thế sao mà chuẩn bị gì được … “. Hai người, người nhỏ con tính tình láu cá rất liếng thoắng nhưng người to lớn thì cư xử rất chừng mực với tôi.
Cuối cùng tôi được mang một bộ quần áo trại. Sàn bê tông không có chiếu. Một người tù thi đua chạy vòng ra phiá sau tường hậu của khu cùm để đút đầu cây suốt dài khoảng 3 mét rưỡi chọc ngang qua bệ cùm bên trái để xuyên qua bệ cùm bên phải là chỗ tôi nằm. Người tù thi đua lớn con nâng tầm móng cùm cho chính xác với đầu cây suốt thép tròn to khoảng gần nửa cổ tay rồi hô lớn “đóng vào “. Đầu cây suốt phi qua lỗ sắt của bệ cùm, xuyên qua được một cái cùm bên chân trái của tôi. Đầu suốt được rút lại một chút rồi bất ngờ thục mạnh lần thứ hai, lần này đầu suốt đâm qua khoen cùm chân thứ hai, chui tọt qua lỗ thép xuyên tường để thòi đầu khoá ra bên ngoài hành lang. Tiêng suốt cùm xuyên qua các lỗ thép nghe gai người, tiện thể lấy mất của tôi một mảng da trắng ởn ở cổ chân phải. Tiếng người tù bự con la rất lớn “ĐM mày làm ăn kiểu gì thế …”. Phiá sau tường hậu không thấy đáp lại … tôi bảo không việc gì, dù rằng cú trượt cùm ấy làm tôi đau đớn muốn tái dại người đi.
Cùm được chốt lại. Khoá cùm được đóng bập từ bên ngoài. Cánh cửa gỗ lim ầm một tiếng mạnh sau khi người sĩ quan đại úy trực trại bước chân hẳn vào buồng cầm chiếc dùi cui điện gõ gõ vào cây suốt cùm vừa được thọc chui qua hai bức tường.

Bóng tối trần ngập, một mùi khai ùa vào khứu giác và tiếng muỗi bay hỗn độn. Phiá ngoài cửa, nối tiếp với âm thanh những đế giày và chìa khoá của ba người đàn ông đi khuất là những tiếng í éo của bầy phụ nữ, những tiếng càu nhàu bảo kỳ cọ chỗ này gãi chà chỗ kia, cả tiếng những bàn tay vỗ bèn bẹt trên da thịt và những tiếng cười ngặt nghẽo. Tôi ngồi cúi áp sát mặt vào thanh cùm, ánh sáng luồn từ đáy khe cửa hắt le lói vào nền buồng, mang theo cả những âm thanh của tiếng vỗ nước đặc thù chỉ phát ra từ một số điểm đặc thù của cơ thể người nữ. Những âm thanh mà chỉ có những người quen tắm sông tắm suối mới nghe nhận ra được! Tôi lẩm bẩm “ Bỏ mẹ con rồi “!


Khoảng 4 chiều tiếng cổng sắt khu cùm loảng xoảng mở rồi tiếng người trực trại tra chìa khoá vào từng buồng cùm. Trong mấy giờ vừa qua tôi đã biết được Trung nhốt ở buồng số 1 đầu tiên, rồi đến một ngươì tù về từ Thái Lan trong nhóm ông Hoàng cơ Minh đợt xâm nhập thứ ba -Đông Tiến 3 - đợt xâm nhập mà tôi đặt vô vàn nghi vấn từ khi biết sự có mặt của họ tại trại này và trại Thanh Liệt Hà Nội. Buồng thứ ba là Trương văn Sương, buồng bốn trống và đến buống tôi, buồng 6 trống, buồng 7 có một hình sự nữ không cùm. Các buồng nói với nhau vô cùng khó nghe vì trần cao kín mít chỉ có một lỗ gió rộng chừng 10 cm dài chừng 30 cm lấy gió vào từ phiá … chuồng heo sát khu bếp.
Các cửa buồng mở, mỗi buồng được tù thi đua đặt vào sàn cùm một nắm cơm và một chén nước (bằng nhựa). Khoảng 10 phút là xong công việc phát cơm như vậy cho tất cả các buồng. Tôi yên lặng không nói gì.
Đêm chập xuống, muỗi vô vàn là muỗi. Muỗi ở đây không hề hiền, chúng như những mũi tên, bay veo véo từ trên cao phóng phập xuống da thịt và cắm ngay đầu kim hút máu liền. Rất côn đồ thảo khấu. Tôi luôn tay đập muỗi mà chúng thì như bọn thiêu thân, không buồn né khi bị đập. Đâu ra thứ muỗi lạ lùng! Chừng 1 giờ đồng hồ như vậy thì chúng biến đi đâu mất hầu hết, chỉ còn lại mấy con vo ve như loại muỗi thường thấy. Nghĩ đến chiều chập tối ngày mai tôi rùng mình ớn lạnh. Đèn vàng vọt đã sáng lên trong buồng mờ nhạt, bàn tay tôi hiện rõ đỏ loe màu máu!

5h30 sáng kẻng báo thức, cổng khu cùm mở, tất cả các cửa buồng lần lượt được mở ra, trực trại thò đầu vào sau khi tù nhân lên tiếng báo cáo hiện diện. Tôi im lặng ngồi (đương nhiên là duỗi thẳng chân) không lên tiếng. Trực trại hỏi tôi.
- Khoẻ chứ anh Thành?
Tôi đáp “cám ơn các ông “, không thêm tiếng nào nữa. Có lẽ người tù thi đua hiểu thâm ý của tôi nên nói giả lả ngay “Sao lại là các ông, anh Thành?“.
Thâm ý của tôi quả đúng là đã bị ngươì tù thi đua nhận sớm ra. Nguyên vì các trại phiá bắc, tù nhân bất kỳ già trẻ lớn bé đều phải gọi cán bộ bằng ÔNG và xưng CON hoặc Cháu. Riêng với giám thị thì phải gọi bằng BAN xưng con hoạc cháu. Tù ở Nam ra tuyệt đối không ai xưng hô kiểu này và việc tôi đáp bốn chữ “ cám ơn các ông “ là hành vi cố ý coi người sĩ quan trực trại cũng ngang hàng bằng vai với hai người tù thi đua đang đi mở các cửa buồng điểm danh.

Khoảng 10 sáng cổng khu cùm lại mở. Lách cách tiếng những bát cơm bằng nhựa va vào nhau. Các cửa buồng được mở, tù thi đua đưa chén nước và nắm cơm vào rồi khoá cửa lại, từng buồng luôn có sự giám sát của sĩ quan trực trại. Bàn tay người tù thi đua to con ngần ngừ khi đặt nắm cơm lên bệ xi măng sát ụ cùm của tôi. Nắm cơm mới đặt cạnh nắm cơm cũ. Bát nước thì đã hết nước nên người tù thi đua đưa chén nước mới vào. Viên sĩ quan trực theo sát mọi hành vi của người tù tự giác mắt như tránh nhìn vào chố tôi đang ngồi duỗi thẳng đôi chân gắn với hai cổ cùm. Cửa đóng lại.

Buổi chiếu khoảng 4 giờ thủ tục đưa cơm lấy bát lại bắt đầu được lập lại. Bên gờ bệ cùm của tôi ba nắm cơm đã xếp bằng nhau. Chiều hôm nay tôi được đi đổ bô. Bô chẳng có phân nhưng tôi vẫn cầm đi ra. Chân đã có phần tê dại nên bước đi đã có vẻ chập choạng. Một tay lần theo tường để đi về phiá sau buồng cùm số 8 để đổ. Tôi đi chậm, tay cầm bô giơ ra bên phần đùi phải, cố ý cho mấy ô cửa sổ bên khu nữ nhìn rõ cảnh trạng “không mấy gì là đẹp đẽ“ này.
Đến sáng ngày cùm thứ ba thì sĩ quan y sĩ vào buồng tôi, sau khi nắm cơm thứ 4 đã xếp ngay ngắn trước bệ cùm. Chiều qua tôi nghe loáng thoáng tiếng ngươì tù thi đua nói với ai đó, giọng rất khúm núm “ dạ … anh ấy không hề sờ vào. Cháu để sao thì lần sau vẫn y như vậy …”.
Viên y sĩ đứng ngay đầu bệ cùm, hỏi tôi sao không ăn cơm. Tôi nói đã quen ăn cơm có mâm có bàn tử tế. Việc cho tù ăn như thế này là xúc phạm người tù. Dù là tù tội, chúng tôi vẫn là những con người VÀ LÀ NHỮNG CON NGƯỜI CHƯA MẤT NHÂN TÍNH. Tôi nói vừa đủ nghe, nhưng nói chậm từng câu từng chữ …

Cửa đóng lại. Chừng 15 phút sau có tiếng bàn gỗ được đem vào khu cùm. Tiếng ghế gỗ va chạm với thành tường xi măng. Tôi được sĩ quan trực mở cửa và người tù thi đua mở cùm, nhã nhặn nói với tôi rằng, bàn ăn của tôi đã có ở đầu tường khu cùm. Tôi chậm rãi bước ra. Ngồi vào bàn. Trên bàn là một chén cơm (bằng nhựa dĩ nhiên) và một chén rau muống. Tôi ngồi ngay ngắn, đưa tay làm tín dấu công giáo rồi cầm đũa ăn ngon lành. Tôi đã rất đói. Viên sĩ quan trực trại gọi đội trưởng đội bếp đem ra hai cái ghế dựa, một cho ông ta ngồi ngoài sân chung hướng mặt vào cổng khu cùm, một cho người tù thi đua ngồi cạnh tôi chừng 4 mét, trong khu cùm cổng khoá.
Chừng 15 phút, không ai giục giã, nhưng tôi biết giấc này là giấc rất bộn bề của sĩ quan trực trại. Tôi đứng lên chậm rãi đi về buồng cùm. Khi người sĩ quan vào kiểm tra chế độ cùm, tôi nói với ông ta rằng “ở đây tất cả chúng tôi đều là con người như mọi con người khác. Ngày mai tôi sẽ tiếp tục không ăn nếu anh em của tôi vẫn bị đối xử như những con mãnh thú …”.

Bắt đầu từ ngày cùm thứ tư, họ dọn cho anh Trung ăn trước, đến anh Sương rồi đến tôi, mỗi người từ 15 đến 20 phút. Người anh em bên nhóm Đông Tiến 3 đã ra cùm, ngươì tù nữ cũng hưởng qui chế kiên giam.
Tình trạng sinh hoạt khu cùm trại A của tôi kéo sang lệnh thứ hai. Ngày thứ 7 của lệnh 1 giám thị mời tôi ra ngoài nhà cơ quan. Người làm việc từ Hà nội vào, không xưng tên, tuổi hơn tôi cỡ ba bốn tuổi.
Nội dung tổng quát họ muốn biết tôi muốn điều gì.

Tôi xác định 3 điêù.
Thứ nhất là chúng tôi không chấp nhận hành vi “địt mẹ địt cha” chúng tôi một cách bừa bãi.
Thứ hai, chúng tôi sẵn sàng đương đầu với bất kỳ ai công khai phát biểu muốn “gĩa nhừ“ đoàn tù A20 chúng tôi.
Thứ ba, bản thân tôi không chấp nhận việc đưa anh Hoàng xuân Chinh và anh Vũ đình Thụy đi mất tích.

Họ ghi nhận và nói chuyện đưa anh Hoàng xuân Chinh đi đâu anh Vũ đình Thụy đi đâu … là thuộc thẩm quyền nhà trại. Tôi đặt vấn đề như vậy là vượt giới hạn. Tôi xác định là tôi sẽ chống đối đến cùng nếu như tôi không biết anh Hoàng xuân Chinh và anh Vũ đình Thụy ở đâu! Buổi làm việc coi như không giải quyết được gì cụ thể.
Tôi về buồng cùm, nhận lệnh cùm thứ 2 thì anh Trung đã rời nhà cùm, không biết đi đâu. Anh Trương văn Sương cũng đã bị đưa đi ra khỏi buồng cùm. Rất hoang mang, tôi quyết định không ăn, tuy nhiên, rút kinh nghiệm vụ tuyệt thực ở A20, tôi không tuyên bố gì hết, cứ lẳng lặng thực hiện việc không ăn.

Ngày thứ ba của lệnh 2, ông Phạm Ninh vào tận buồng, khuyên tôi nên ăn cơm, chuyện đâu còn có đó. Tôi nói lời cám ơn, không hứa gì cả. Sang ngày thứ 5 thì sự cố xảy ra.

Qua ngày thứ 5 của lệnh cùm 2, đêm lạnh đã bắt đầu thấm vào hai đầu vai và vùng xương chậu. Những cơn đau thấp khớp tôi cố vượt qua vì biết chắc họ không chuyển thuốc để tôi xử dụng. Những giờ tập khí công đã bị nhập nhoạng nửa mê nửa tỉnh vì không có tư thế ngồi hoàn chỉnh, nằm thì khí lạnh của đá ngấm buốt vào nội phủ. Tôi không ăn 3 ngày của lệnh 1 và 5 ngày của lệnh 2. Vì không tuyên bố tuyên bọ gì sất nên họ vẫn cấp nước ngày một bát nên chuyện hụt nước không đến nỗi trầm trọng lắm tuy vẫn bị thiếu nước uống. Vấn đề trầm trọng ở đây là muỗi ban đêm, và ban ngày thì những tiếng éo nhéo của đàn phụ nữ hơi quá đa tình. Họ không hề biết là tôi không ăn, đang phải tranh đấu cật lực vơí cái sự đói … nên có ý trêu rất dai. Những sự trêu đùa ấy vô tình phá nát sự cố gắng tĩnh thần tịnh khí của tôi. Đêm thứ 4 của lệnh 2, khoảng giấc gần sáng tôi chìm vào mê man không cưỡng lại được …
$pageOut
$pageIn 3


Đến khi TÔI THẤY TÔI ĐƯỢC DÌU TỪ TRONG BUỒNG CÙM ĐI RA, đầu gục xuống ngực, hai bên là hai ngươì tù thi đua, phía trước phiá sau năm bảy người sĩ quan lúp xúp trong áo mưa. Trời chưa sáng. TÔI THẤY HỌ ĐƯA TÔI VÀO KHU BỆNH XÁ. Ở đó ông Ninh đứng chờ sẵn, nghe được ông ta hỏi “kim tiêm của nó đâu“. Viên sĩ quan y sĩ ú ớ nói là hết rồi. Tiếng ông Ninh quát “ … khi nó ra trại này hang 4, 5 trăm mũi kim riêng “. “ Dạ! đã hết rồi, anh ấy cho hết rồi … “. Có tiếng đàn bà, là bà bác sĩ của trại, nghe đồn là bồ nhí của cục trưởng V.26 -đại tá Đỗ Năm. Tiếng bà giục đem nhanh kim tiêm ra. Viên trung úy y sĩ nói chỉ còn kim trại. “ Mài kim!! Nấu nước! “ tiếng giám thị Phạm Ninh như gào lên. Căn phòng cấp cứu trạm xá người chạy ra kẻ chạy vào lốn nhốn, đồ tù lẫn đồ công an trộn lẫn vào nhau. Tiếng ông Ninh “ĐM, nó mà làm sao, tao rút chúng mày hai bậc…"

Tôi mơ màng nhận diện được sự vật, chẳng biết đã bao nhiêu giờ trôi qua, chỉ biết là đèn điện sáng chung quanh. Linh Nghệ An đỡ tôi ngồi lên nhưng tôi không cách chi ngồi được, tất cả đều nghiêng hẳn về một phiá như chuẩn bị đổ ập. Nhà nghiêng, giường nghiêng làm tay tôi bấu chặt với bất kỳ thứ gì có thể bấu được!
Họ đưa tôi sang trạm xá, nằm chung với khoảng bốn năm chục người bệnh lao đợi chết. Chỗ nằm của tôi là trong góc trong cùng, có Linh đặc cách từ khu cách ly sang nằm cạnh, hai người nằm trên ba chiếc chiếu. Linh nấu cháo đậu xanh đút cho tôi từng thìa.
Mấy người tù hình sự bệnh nặng có người nói “ … ông này tù gì mà lạ thế này …”.
Tiếng Linh đối đáp “ĐM! Làm ơn yên ắng, ngậm cái mồm bớt lại! Ban Ninh còn phải sợ ông này …”.
Thằng bé không hiểu sự tình nên phun bừa ra câu ông Ninh cũng phải sợ tôi! Biết là nó nói trật lất nhưng lưỡi tôi đơ đơ, không lên tiếng được …
Linh người công giáo Nghệ An. Tôi không như những anh em A20 khác, thường hay coi Linh như kẻ nguy hiểm. Chỉ bảo được Linh điều gì là tôi chỉ bảo tận tình. Trong hoàn cảnh nhiễu nhương tù tội, từ vô thức, nó coi tôi như một người anh lớn lúc nào không hay. Cách mớm cháo của nó, tôi hiểu nó thương tôi thật lòng. Chứ tù với tù, lại là những thứ đàn ông ngang bướng vốn đời nhiều lần vào sinh ra tử…không dễ gì mà ân cần cho nhau từng thìa cháo như thế. Nó biết tôi hận nhiều thứ nhưng cố kìm nén nên đã nói với tôi những câu mà người ta thường nói khi nghĩ rằng người thân yêu của mình đang có thể sắp sửa chết “ Anh cố nuốt!..Còn mẹ anh! Còn con anh nữa …”.
Nó vụng về, nói lắp ba lắp bắp, nhưng tôi biết là nó nói với tâm thành, dù là tôi không ngồi dậy được, dù là mọi thứ nghiêng và xoay liên hồi … tôi vẫn loé lên được ý chí là mình phải sống, từ những lời sách tấn tinh thần vụng về nhưng chân thành của một đứa tù hình sự bị bắt buộc phải theo dõi tôi từng li từng tí!

… Ngày thứ tư từ ngày sang bệnh xá, tôi lẫm chẫm đi được. Luống hoa thược dược nở đầy những bông tím xanh trắng vàng, tôi cố định thần nhìn theo những cành hoa ấy mà đi. Ngã xuống lại lồm cồm bò lên. Linh lúc nào cũng bên tôi, dìu từng bước, đỡ từng cái té sấp vô vô phương hướng của tôi…

Ngày thứ sáu, tôi đã đi được một mình. Lâm vào gọi tôi ra khu cấp cứu. Đọc lệnh kiên giam. Tôi không nói gì. Nhìn Linh lần cuối rồi đi theo Lâm. Lâm thấy tôi muốn ngã nên đứng lại, bước đến sát bên tôi, cầm tay phải của tôi khoác lên vai Lâm. Rất chậm, hai chúng tôi đi như thế ra lầu trung tâm. Dù đoạn đường đi chỉ có chừng 250 mét, nhưng đã vô tình hằn sâu vào tâm hồn tôi một ý thức khó tả. Tôi là đứa ương bướng, chưa từng bao giờ nghĩ mình phải bấu bám vai một người công an mật vụ hay quản tù … để bước đi những bước chân chập chững.
Lâm có thể không biết, nhưng trong khoảng khắc ấy, tôi đã là một con người với rất nhiều thay đổi.

Sau này, tôi biết là từ những giờ phút ấy, tôi đã trở thành NGƯƠÌ ĐẤU TRANH KHÔNG THÙ HẬN.

Chiếc xe U Oát đậu sát thềm lầu hội trường. Tư trang của tôi đã xếp gọn gàng trong xe. Người tài xế nổ máy chờ sẵn. Lâm dìu tôi ngồi xuống ghế bên cạnh tài xế. mở hộp còng số 8 loại mi ni bập vào hai ngón tay cái của tôi. Bộ còng lớn bập vào gọng sắt ghế ngồi và cổ tay trái. Tôi chầm chậm đưa mắt nhìn một lượt bốn chung quanh, nghĩ rằng mình sẽ không còn có dịp quay về nơi đây. Cổng khu tù chính trị khuất hẳn tầm nhìn của tôi. Tôi bình thản thả trôi mạng sống cho số phận. Giờ này chẳng còn phản ứng gì được nữa, đứng còn không vững lấy gì lý luận với phản kháng.

Xe qua cổng chính. Bốn người trên xe gồm tài xế, Lâm an ninh và một bảo vệ súng dài. Tôi cảm giác rằng sẽ đi không xa nơi đây, vì chỉ có một bảo vệ và Lâm không mặc đồ lễ mũ vành.

Xe chạy qua đội tù chính trị miền nam, dáng Nguyễn đình Oai gánh đôi thùng tưới đi thoăn thoắt trên những luốn rau cải xanh ngắt. Dáng TRung cao lòng khòng và Trần Minh Tuấn giữa vườn rau. Bóng anh Vàng tất tưởi chạy ra ven lộ đưa tay vẫy vẫy rồi bóng cả đội đập đá đứng nhốn nháo hết cả lên khi xe bất ngờ chạy ngang, rõ nhất là Đỗ bạch Thố đứng bên ông Bùi Gia Liêm với mái tóc bạc trắng và hàm râu nghệ sĩ. Tôi muốn đưa tay vẫy chào anh em thân yêu mà không được, vì tay tôi dính với thành ghế rồi!

Mới gặp lại nhau chưa đầy 10 tháng, giờ lại chia tay. Lần này đường đi chỉ mình tôi! Nỗi luyến lưu bất chợt dâng lên đong đầy hai con mắt. Tôi để mặc những giọt nước mắt ưá ra lăn qua má rớt tuỉ nhục lên đôi còng thép bạc.


Paris 6.1.2016
Phạm văn Thành

= = =$pageOut
$pageIn

4

Biệt giam K.C!




Xe chạy ngang qua cánh đồng trại 5. Phân trại A nhìn từ con đường xuyên ngang cánh đồng trông thật thâm u vì không thấy được các mái nhà tầng ở bên trong. Tường đá ong xây cao như một cổ thành thời trung cổ. Ba chòi canh nghễu nghện với những hàng dây điện trông như một gã phù thủy đứng bất động tụng kinh. Các thửa ruộng hai bên lổ chỗ thửa đang gặt thửa vừa mới cấy. Rải rác khắp cánh đồng là những bóng người cúi lưng vục mặt xuống các mặt ruộng. Chân núi uốn lượn vòng vèo.

Xe qua một cổng trại, tôi biết đó là phân trại B. Tường phân trại B không nghễu nghện đá ong như phân trại A, không có nhà cao tầng, trông rõ là kém bề thế rất nhiều so vơí phân trại A.
Qua cổng phân trại B, xe ôm cua tay mặt, đường đi bây giờ là sạn đạo, một bên là vách núi một bên là cánh đồng nước bạc nhấp nhô xen lẫn những thảm lúa xanh. Giữa khoảng nước bạc nhấp nhô là một sân đất nện nổi lên trông thật lạ lùng.

Tôi hỏi ông Lâm:
- Sân gì vậy cán bộ?
- Sân phơi thóc, cộ thóc? Lâm đáp, có vẻ tự hào.
- Sao mà lớn vậy!
- Sông còn chặn được thì cái sân có nghĩa lý gì …

Bất giác tôi rùng mình, liên tưởng lại những điều mô tả trong cuốn tự truyện Trại Đầm Đùn (7). Đầu tôi lùng nhùng âm thanh bốn chữ “nước sông công tù”! Bao nhiêu người đã nằm xuống cho cái sân phơi hoành tráng giữa đồng kia? Bao nhiêu mồ hôi, bao nhiêu đòn roi, bao nhiêu nước mắt của thân nhân họ khi biền biệt năm tháng không thấy người thân trở về …
Tôi bỗng bật ra câu hỏi với Lâm, gần như từ vô thức:
- Cán bộ có bao giờ nghe bài hát Ông Lái Đò (8) không?
Lâm đáp nhanh, gật gù, tự nhiên, thanh thản
- ”Có chứ! Bài ấy hay …”
Tôi kín đáo nghiêng người nhìn về tay mặt bên sườn núi, nhưng là để thẩm định lại cho rõ thái độ của Lâm. Lâm vô tư nhìn theo hướng nhìn của tôi. Tôi biết là Lâm không biết lịch sử của ca khúc đau đớn ấy nên mới trả lời tôi như vậy. Đó là ca khúc đã ra đời từ những giòng sông dẫn vào trại ngày nay, xưa gọi là các trại Lý Bá Sơ. Thời 1950 đã bao người Việt Nam Quốc Dân Đảng và Đại Việt đã bị bắt đưa vào các trại Lý Bá Sơ, người đưa đò chuyển họ qua sông với dây thừng cột dính thành từng chùm nhóm. Những chuyến đò không bao giờ được trả tiền công và cũng không bao giờ thấy ”khách” quay về, đến cả khi người chèo đò già yếu và chết đi, vẫn không thấy ai quay về …Giờ đây, tôi đang cận mặt với những gì họ đã trút máu xương xây thành. Đầm Đùn, Lý Bá Sơ năm xưa, giờ là trại 5 công nghiệp tù!

Xe gật gù men theo đường sạn đạo, mắt tôi đụng phải một mái ngói xám chênh vênh giữa chân núi, đầu đao cong lên như thế nhảy của một con nghê bị trói bụng. Một cảm giác ớn lạnh chạy dọc sống lưng! Xe chạy gần hơn cho tôi nhận ra đó là một ngôi miếu loại hoành tráng, nửa miếu nửa đền! Tôi bật miệng hỏi:
- Miếu ai đây?
- Đền chứ miếu gì? Đền Lê Lai đấy! Ông ấy chết ngay tại đây! Trên kia là hang Lê Lợi …

Viên sĩ quan tài xế vừa nói vừa chỉ tay lên phiá núi. Tai tôi cơ hồ như ù đi. Lê Lai! Người anh hùng lịch sử mà tôi kính trọng nhất, hơn tất cả những vua chúa của các dân tộc Kinh Mường Nùng Chàm Thái, Hoa, Miên. Ở ông, từ thủa thiếu thời, tôi đã ám ảnh cách chọn cái chết vô cầu phi thường của ông, lòng đã từng nghĩ có ngày phải tìm đến đền ông mà bái lạy. Giờ là đền ông ngay bên cạnh tôi, và tôi chân tay cùm xích…
Xe chạy qua đền, chắc chắn cả Lâm lẫn người tài xế và tay súng bảo vệ đều chẳng biết lòng tôi vừa đụng phải một tia chớp giật cực mạnh.

Xe vào hẳn trong cổng. Cánh cổng sắt đồ sộ. Đây chính là phân trại C. Hướng núi và vòng xe di chuyển cho tôi biết chắc đây là phân trại C. Trại gốc của một vùng huyền ảo Lý Bá Sơ năm nào. Sân trại phẳng tắp không cây cối, nền sân đất đá nện rất chắc chắn. Xe de đít vào ngay góc cổng trại. Một khu vực tường xây cao 2 mét biết lập hẳn vơí khu tù chung. Như vậy, khu kỷ luật của phân trại C là ngay đầu trại. “Ngay đầu trại thì sinh khí hơn”! Tôi lẩm bẩm và bước xuống xe theo đà của cánh cửa, sau khi còng được mở.

Đồ đạc tư trang của tôi được mang ngay vào buồng đầu tiên của khu cùm. Khu cùm từ tường vây đến tường nhà tường sân …đều xây bằng đá nâu. Tất cả đều cao nghễu nghện! Dao cạo râu, thuốc uống (tất cả các loại thuốc –dược phẩm) đều bị lưu ký. Quyển tự điển Hán Việt và quyển Pháp Việt, Anh Việt được lật kiểm từng trang. Bất kỳ bút chì bút bi hay thỏi chì … đều bị thu giữ. Thư gia đình thì tù được quyền giữ, nhưng giấy trắng thì bị thu sạch.
Về đồ ăn, tôi là đứa vô sản nên không có gì, viên trực trại khu C hỏi tôi có đồ ăn khô gì không? Tôi bảo không. Ông ta chỉ vào một gói giấy hỏi cái gì đây rồi mở ra. Đó là bọc gói bên trong có xếp 10 gói mì Miliket loại có bao bì bằng giấy cũ vàng y như là giấy bao xi măng, tức là loại mì ăn liền rẻ tiền nhất ở Việt Nam thời bấy giờ. Tôi cố dấu sự mừng rỡ, vì biết đây là thủ thuật do Thố đã lo lắng cho tôi.

Thố bị cùm đã nhiều trận, kiên giam cũng đã nhiều lần kinh qua nên biết cái gì cần thiết cho người cùm kiên giam. 10 gói mì này tôi có thể ăn được 30 ngày. Tôi tính toán và hình dung ngay tức khắc sẽ bẻ làm ba mỗi gói và sẽ là ba ngày cho một gói mì. Một hạnh phúc tầm thường đối với những người thường bên ngoài xã hội, nhưng với người kiên giam là cả một sự rất qúi báu. Thố đã khôn ngoan gói lại và đặt trong thùng gỗ đựng sách vở và thuốc của tôi cốt để phiá cán bộ sẽ phải mở ra khi đã lỡ làng đặt trước mặt tôi khi khám tư trang tù như thủ tục. Với tôi, việc lấy lại 10 gói mì sẽ là việc gây khó khăn cho hầu hết cán bộ của các phân trại này. Vì thùng thuốc tây của tôi, tôi không từ chối chia sớt với ai bao giờ. Các thuốc tây ấy là do các anh chị của nhóm ông bà Nguyễn quốc Nam từ Pháp gởi cho gia đình tôi (sau khi ra tù hàng chục năm sau tôi mới biết chi tiết này!) và gia đình hàng tháng gởi vào cho tôi. Khi nhìn thấy số thuốc và kim tiêm cá nhân của tôi khi tôi bị chuyển từ A20 ra Trại 5, chính bà đại úy bác sĩ trại tù này còn phải thốt lên ”cơ số thuốc của anh còn hơn cơ số thuốc của bệnh xá trại 5 …”
Giúp ai được điều gì thì tôi chân thành giúp, anh em tù cũng vậy, phiá cán bộ cũng vậy. Với tôi, con bệnh không phân biệt quan điểm chính trị!
Giờ đây số thuốc của tôi chỉ còn lèo tèo mấy chục vỉ của tất cả các loại. “Trung ương” yêu cầu thu giữ lưu ký hết, kể cả thuốc thiết thân là thuốc thấp khớp của tôi.
- ”Khi lên cơn đau, bác sĩ trại sẽ khám và cấp thuốc”! Viên trực trại nói với tôi rằng quyết định “ở trên” là như vậy.
Tôi có đươc chiếc chăn trại. Một tấm chiếu. Tất cả những thứ được đem vào buồng cùm kiên giam được xếp gọn vào chiếc thùng gỗ mà Thố đã đóng cho tôi từ lúc còn ở A20 Xuân Phước Phú Yên. Dao cạo râu, kem đánh răng, bàn chải …không được mang vào.
Tôi vơ ngay lấy chiếc bàn chải và hộp kem, nặn ngay kem ra và tức khắc đánh răng, vừa đánh răng vừa chầm chậm vào buồng. Thật là sảng khoái khi người tù thi đua trại C đưa cho tôi ca nước bằng nhựa để hoàn tất công việc đánh răng. Từ ngày bị đưa vào buồng cùm và ra trạm cấp cứu đến nay đã ba tuần, tôi chưa hề đươc đánh răng! Râu ria tua tủa thật khó chịu (tôi có hàm râu chả đẹp đẽ gì, mọc bừa bộn thô lậu).
Lâm chào tôi. Lần đầu tiên Lâm đưa tay ra bắt tay tôi. Lâm là sĩ quan an ninh của trại 5 nhưng tướng pháp khác hẳn Lâm an ninh A20. Tướng Lâm A20 nhong nhỏng cao, mặt trắng nhợt nhạt, môi luôn như mím lại, trái với Lâm an ninh trại 5. Tướng đi ngang tang dềnh dàng, ngươì tầm thước đậm đà, miệng lúc nào cũng như muốn cười, mặt vuông vức … nhìn tướng đi của Lâm, tôi cảm giác là Lâm đã chọn lầm nghề. Tướng pháp như Lâm không thể nào hiểm độc hay thích tàn ác vơí tha nhân, điều trái ngược hẳn vơí nghề nghiệp công an - an ninh trại tù.
Ở Lâm tôi mờ mờ nhận ra đâu đó bóng dáng của một thằng bạn rất thân của tôi thủa thiếu thời 1978/80 là Đào Hậu. Hậu là đứa hết long vì bạn, ruột để ngoài da, luôn thương người thấp kém hơn mình, rất anh hùng mã thượng trong mọi hoàn cảnh. Hai tướng đi và hai ánh mắt của hai người này rất giống nhau.

An ninh, giáo dục, trực trại của phân trại C đừng chộn rộn trong ô sân cùm. Tất cả đều như mang một chút ngạc nhiên khi thấy Lâm đưa tay bắt tay tôi, thái độ thân ái như hai người bạn khi xa nhau. Lâm quay mình bước ra cổng sân buồng cùm, không quay lại. Sân buồng còn lại hai người đại úy bảo tôi vào ô cùm.
Ô cùm kiên giam ngang chừng 2m50 rộng cũng chừng ấy. Cửa ra vào khoảng cao 1m60. Cửa sắt và gờ cừa cũng là sắt dầy. Cửa sắt kín từ dưới lên khoảng 1m20. 40 centimet trên cùng là sắt tròn hàn thành các ô vuông 10 centimet để lấy ánh sang và không khí vào cho gian cùm. Bệ cùm chân cùm đã được phá đi, xây chồng lên là một lớp đá dầy. Tường vôi mới quét bốn chung quanh. Một ô vuông tường khuất hằn có lối đi vào là bể nước và WC bàn cầu ngồi. Cấu trúc này với tôi thật là lạ lùng. Cửa sắt đóng lại. Hai người đại úy lúi húi cùng cầm cùng xoay xoay nắn ổ khoá …
Ra là họ không cùm tôi!

Sảng khoái, tôi chầm chậm ngồi xuống bệ nằm bằng đá. Tiếng bước chân hai người sĩ quan đi ra cửa sân rồi tiếng lách cách khoá cổng sân, cuối cùng là tiếng cánh cổng sắt khu kiên giam uỳnh uỳnh đóng lại. Tôi từ từ ngả lưng nằm dài xuống nền đá … nhưng vội gượng ngồi ngay dậy khi cảm thấy cả khu cùm bắt đầu quay mòng mòng! Tôi đã rất sợ cảm giác mọi thứ cứ quay lộn tùng phèo hết cả lên, không biết nắm vào đâu để giữ thăng bằng …

- Út ơi!

Tôi chới với đứng ngay dậy. Lờ quờ bước ba bốn bước ghé mặt sát các song cửa! Tiếng ai như tiếng anh Sương vừa gọi tôi!
Không nghe gì nữa cả! Tôi bẹo mạnh vào bắp tay để chắc chắn biết là mình hoàn toàn tỉnh táo! Một cảm giác thảng thốt len nhanh qua tâm trí «… không lẽ Sương … không còn! » Tôi quyết định lên tiếng và nghĩ nếu là Sương đã chết thì chắc chắn Sương đã về với tôi. Tôi nói lớn, nghiêm giọng:
- Phải anh Sương không?
- Sương đây Út ơi!
Tiếng anh Sương lập tức đáp lại, như từ một vách núi nào xa lắm! Tôi bán tín bán nghi bèn vào trong ô buồng WC, tường WC là giáp tường bên buồng số 2. Nếu Sương bên buồng 2 thì Sương phải nghe tiếng tôi dộng tay vào tường. Tôi dộng mạnh năm sáu phát liền. Có năm sáu phát dộng lại, cũng như xa lắm!
Vậy là Sương ở bên kia! Tôi mừng muốn khụyu chân xuống.
Tôi ra cửa, nói lớn, chậm rãi vì biết âm thanh bên anh Sương khó thoát ra
- « Em đây anh Sương? Anh sao rồi ».
- Khỏe Thành ơi! - Vẫn tiếng rất xa.
- Sao anh nói khó nghe quá!
-Anh ở xa cửa!

Tôi bần thần. Như vậy là Sương bị cùm!

-Anh bị cùm à?
- Ừa! Mà bộ tụi nó không cùm em à?
- Bên này không có bệ cùm!
- Có mà!
- Quái lạ! Là thực hay là mơ đây? Tôi định thần lại một lần nữa. Nhìn chung quanh buồng. Quả là vết bê tông ụ nằm lát đá còn rất mới!
- Mà thôi đừng nói nữa! Để mấy bữa nữa đi! Chớ nói nữa họ chuyển xa nhau là chết ngắc!...

Tôi không đáp, lòng bấn loạn nghĩ đến Chinh và Thụy nên hỏi lớn.
Anh biết Chinh Thụy đi đâu không?
Bên số 5!
Tôi bàng hoàng, hỏi lớn.
5 nào?
Anh số 2. Út số 1. Chinh số 5. Dũng số 6. Thụy 11, Đăng 12 đàng sau …

Tôi rú lên, đập cửa thình thình. Tiếng sắt thép va vào nhau rổn rảng, là tiếng đập cùm của anh Sương vọng sang!

*

Tôi đứng khum khum nhìn ra khoảnh sân trước buồng cùm. Sân lát gạch nung vuông 30cm, bề ngang sân 5 mét, bề dài khoảng 7 mét là đến cửa cổng. Vách tường đá nâu cao ngất ngưởng khoảng 4 mét, trên 4 mét ấy mơí xây thêm 1 mét gạch thường. Như vậy, ô sân trở thành một cái giếng. Âm thanh từ buồng cùm vọng ra đã khó, trèo qua được bước tường cao này thì biến dạng là phải.

Mắt tôi quan sát bên trên các bức tường đá. Rêu đã có khá nhiều, chứng tỏ căn buồng cùm này không mấy khi có người ở. Sát mép buồng cùm, lênh khênh trên một gờ đá ong có một thân cây giống cây me mọc bám chắc đã lâu ngày, cây cao chừng 30 cm bám chênh vênh giữa khoảng tường đá, thân cây cằn cỗi khẳng khiu cỡ bằng nửa chiếc đũa. ”Chắc con chim nào đã ị hạt giống vào đây”. Tôi ngẫm nghĩ nhìn gốc cây lạ lùng vô danh tí hon rồi đưa mắt soi cẩn thận xuống nền gạch của sân. Giữa sân, sát tường bên tay trái có một bệ đá xây như bàn ngồi ăn cơm và ghế đá. Tất cả đều là mới làm xong cỡ năm ba ngày. Chính giữa sân, thẳng tắp từ cửa buồng cùm đi thẳng ra cửa sân, hàng gạch nung bị vạt sâu hõm xuống thành một đường rãnh hõm rất đều nhau. Tại sao có đường rãnh này? Câu hỏi rất nhanh xẹt qua đầu và tức khắc đưa ra câu trả lời khốc liệt: Những người bị xiềng chân lưu cữu!

Bất giác tôi thấy mình như lớn hẳn lên vì thảng thốt nhận ra một dấu tích, tuy nhỏ nhặt bé mọn nhưng là một sự nối kết vô hình của một giai đoạn lịch sử tàn khốc, của nửa thế kỷ kéo dài dính chặt đến hôm nay, những con người mang một ý thức công bằng dân sinh, độc lập dân tộc, tự do tư tưởng … vẫn còn phải trả giá bằng những sự thù hận man dã từ chính những người đồng chủng chung một tổ tiên chung một nền văn hoá.

Những bước tường như thời Trung cổ Âu châu đang vây chung quanh tôi đây, đã ít nhất hơn 50 năm chứng kiến bao cảnh một đàn gà chung một Mẹ già tận lực xé xác lẫn nhau! Tôi cả nửa đời lang bạt kỳ hồ, lòng chưa bao giờ hình dung đến sẽ phải (hay được) đứng trong một dãy hầm cùm đã được xây dựng từ 50 năm trước, khi đất nước vừa được người Nhật trao trả quyền độc lập sau các biến động Thế Chiến và bị thế lực cộng sản quốc tế thừa cơ chiếm đoạt, gây nên bao cảnh hãi hùng khởi từ những tấm lòng cuồng nhiệt cực độ mà ngu ngơ cũng cực độ … dẫn đất nước vào hai cuộc chiến tranh triền miên máu, nước mắt và đói khát hèn hạ.

50 năm trước, khi dân còn cơ cầu đói khát lơ láo với món quà độc lập từ trên trời rơi xuống… thì những trại tù hùng vĩ thế này được cất lên! Ai đã xây những bức tường này? Ai đã đập đá giã vôi? Ai đã ngào hồ trộn vữa… để cơ ngơi trùng trùng những nhà tù hôm nay trở thành như một nền công nghiệp trên giải đất Lam Sơn lịch sử 10 năm nằm gai nềm mật kháng chiến chống quân Hán Minh 500 năm về trước! Căn cứ nghĩa quân! Sân tập trận! Bãi thao trường …là nơi giờ đây tôi đang đứng chân lên trên, trong một căn hầm dành cho loài mãnh thú, với án danh là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng cho an ninh quốc gia!!!
Nhìn các vách tường đá lưu cữu, nhìn bầu trời trong xanh đã bị bó hẹp lại trên đỉnh những gờ đá, nhìn xa xa là vách núi dựng đứng, nơi có dấu chấm được gọi là miệng hang Lê Lợi lúc ẩn lúc hiện giữa những làn mây treo lơ lửng… khiến cảm xúc trong tôi tôi như sóng vỗ xô bờ …
Có bóng người thấp thoáng đi qua đi lại trước khu cửa sân buồng số 1, là người tù thi đua ban nãy đã phụ đem chiếc hòm gỗ của tôi vào buồng. Như vậy là họ đã để túc trực một người tù thi đua ngay trong khu kỷ luật cách ly này. Chả trách anh Chinh và anh Dũng không lên tiếng với tôi, vì chắc chắn sẽ phải gào rất lớn tôi mới nghe được, trong khi khu nhà trực trại là sát ngay tường phiá bên ngoài khu biệt giam, chỉ cách con đường chính dẫn vào cổng trại.

Người tù thi đua này có vẻ chân phương, không « gai góc sắc sảo » như hai người tù thi đua ngoài trại A. Anh ta có vẻ muốn gần gũi tôi, nhưng xa quá, chỉ nhìn thoáng thấy tia mắt của nhau từ cửa sắt buồng cùm vơí của sắt để dẫn ra cổng khu cách ly.

Khoảng 4 giờ chiều có tiếng lỉnh kỉnh mở cổng khu kỷ luật, rồi ngay sau đó là mở cửa sân buồng tôi. Hai người đại úy đi vào cửa buồng, cùng lúi húi tra chìa khoá vào ổ để mở khoá. Khoá mở xong thì một người cầm ổ khoá trên tay gọi tôi bước ra sân. Trong sân có ba người là hai đại úy và người tù thi đua. Viên đại úy cao ngang ngửa vơí tôi lên tiếng.
- Tôi là trực trại, ông … (tôi quên tên) đây là trách nhiệm giáo dục. Qui chế sinh hoạt của anh cho tuần này là không cùm. Anh có hai lần mỗi ngày, chúng tôi mở cửa buồng để anh ra bàn ăn cơm. 11 giờ sáng và 4 giờ chiều. Mỗi lần ra sân anh có 30 phút.

Nhìn chung quanh một lượt ông nói tiếp, giọng người Mường Thanh hoá đặc thù.
- Đây là phân trại C. Anh chắc đã nhận thấy sự khác biệt của buồng anh vơí các buồng khác. Chúng tôi mong anh an tâm sinh hoạt, không để xảy ra những chuyện đáng tiếc … vì chắc chắn là anh chỉ sẽ thiệt hại mà thôi…

Tôi không nói gì, đứng yên lắng nghe. Thái độ của cả hai là thái độ nhã nhặn, tuyệt không thấy sự thù hằn nào hiện lên trên hai khuôn mặt này.

Ông ta chỉ người tù thi đua.

-Đây là anh … (tôi quên tên rồi) là người bên cạnh các anh. Có điều gì cần gặp chúng tôi, anh cứ nói vơí anh ta. Nước nôi sinh hoạt của buồng anh … sẽ hàng ngày châm cho đầy cái bể trong nhà met (WC). Cơm anh ta cũng là người nấu trực tiếp cho các anh, không chung nồi với trại chung …
Nói xong ông ta ra hiệu cho người tù thi đua mang cơm vào. Người tù thi đua bê một chồng 4 cái mâm vào đặt trên bàn đá rồi thứ tự lấy mâm trên cao nhất đặt xuống mặt bàn, lấy mâm cao thứ ba đặt lên cái mâm thứ nhất dưới mặt bàn và chuyền chiếc mâm áp chót của hàng mâm lúc đem vào, đặt lên thành tầng thứ ba của ba mâm. Như vậy. Mâm cuối cùng là mâm của tôi. Thủ tục này suốt hai tháng trời là như thế.
Ba mâm của các anh Dũng, Sương, Chinh bằng nhau, bát cơm đầy hơn một chút so với bát cơm mâm của tôi, bát canh rau muống giống nhau và đăc biệt mỗi bát cơm của các anh có một nủa con cá khô, bằng chừng gần ngón tay út.
-“Miếng ăn trong tù to lớn vô cùng”! Vào trong hoàn cảnh này tôi mới thật sự hiểu được giá trị của câu nói ấy.

Thủ tục này tôi hiểu là hoàn toàn không phát sinh từ giám thị trại này. Vì “tiêu chuẩn” ăn của tôi, ngay đến giám thị Lường (phân trại C) cũng có lần bày tỏ sự bất bình trước mặt tôi.”Sao lại đối xử với các anh như thế này nhỉ …” câu nói ấy theo tôi mãi đến ngày hôm nay, từ một người thượng tá gốc Mường đơn sơ đôn hậu.

Tôi ăn cơm xong (chỉ 5 phút) bèn tận dụng giờ được tản bộ trong sân tôi mon men ra cánh cửa sắt, hy vọng tìm thấy hình bóng hay âm thanh nào đó của Chinh và Dũng … nhưng không thò đầu ra song cửa sắt được. Gờ tường quá dầy nên tầm mắt nhìn nghiêng qua buồng 1 và 2, chỉ thấy ba, bốn mét lối đi. Có lẽ các anh sợ bị chuyển xa nhau nên không lên tiếng lớn, chỉ húng hắng ho để tôi nhận biết là các anh đã biết tôi ở buồng này. Tôi to mồm gọi chào anh Dũng anh Chinh. Đăng và Thụy ở bên kia, phẩn tường đàng sau thì không cách chi bắn tiếng cho nhau được. Tuy nhiên, biết các anh cả ở đây là yên tâm rồi. Có điều anh Dũng và Đăng tại sao bị bắt vào cùm thì tôi chưa biết lý do. Vơí anh Dũng, tôi đã dặn kỹ trước khi xảy ra chuyện đối đầu là anh cần đứng ngoài, không dính chùm vào với tôi… vậy hà cớ gì anh lại bị cùm vào đây! Đăng tôi cũng không hiểu vì sao!

Người tù thi đua luôn ẩn hiện. Một lần tôi ”chộp” được anh ta.
- Này anh bạn!
- Dạ …
Anh ta có vẻ lúng túng.
- Quê anh ở đâu?
- Ở tỉnh này anh ạ!
Nghe giọng nói và cung cách, tôi không dấu đươc ngạc nhiên.
- Sao ông lại … vào đây nhỉ? - Tôi vừa hỏi vừa lắc lắc cái đầu, không ngờ cảm giác lộn tùng phèo ập ngay đến. Tôi vội ngồi thụp xuống tựa lưng vào thành cửa sắt, dán chạt lựng vào tấm cửa, hai chân dạng rộng ra để khỏi mất thăng bằng mà đâm đầu xuống nền đá. Tiếng người tù thi đua í ới chạy ra cổng khu gọi ”ông ơi ông ơi” bài hãi!
Phải nói là tôi đã rất sợ cảm giác lộn tùng phèo tất tần tật tất cả mọi thứ lên. Nhớ mấy hôm còn bên bệnh xá trại A, những lúc ngã đâm đầu xuống cạnh luống hoa thược dược mà không có Linh, mặt mũi tôi bê bết đất cát khi đứng lên được! Tôi sợ trời đất quay mòng mòng. Sợ cảm giác sụp đổ. Sợ thân mình bị chổng ngược lơ lửng giữa đất trời và những mái tầng nhà tù.
May mà tình trạng đảo lộn chỉ thoáng qua chừng 3, 4 phút. Tôi bắt đầu co chân lại để vịn tường đứng lên thì cửa mở. Viên đại úy trực trại ào vào vực nách tôi dìu vào buồng. Cả hai đều cao lớn nên cùng phải khom khom mới lọt qua được cánh cửa sắt. mà vơí tôi, việc cúi đầu xuống là việc đã trở thành tối kỵ… nên trôi phải khụy gối xuống, nửa bước nửa qùy để vào bệ cùm, ngồi tựa lưng ngay ngắn vào vách tường.
Viên sĩ quan trực trại có vẻ rất ái ngại khi phải khoá cửa buồng để tôi lại một mình. Ông lần khân lần khan vẻ như không biét xử trí ra sao. Tôi nói
- Tôi quen rồi. Không sao đâu cán bộ..
Ông ta tần ngần cùng người tù thi đua đi ra khỏi buồng, lách cách đóng khoá. Lần này thì tôi biết chắc rằng cái ổ khoá là loại khoá hai chìa!
- Tôi lẩm bẩm “… mấy ông bị lừa rồi! Tôi có là con khỉ khô gì đâu mà mấy ông phải nhìn tôi là quan trọng một cách quái gở thế này …”.

Khoảng 2 tiếng sau, bóng đêm ập xuống, ánh đèn vàng vọt từ một cái lỗ như lỗ thông hơi trên cửa ra vào sát với trần buồng hắt le lói vào đúng vị trí bệ cùm tôi nằm. Những tiếng tạch xè tạch xè quen thuộc của một thủa ấu thơ dội về, tôi rảo mắt chầm chậm nhìn lên hướng đền vàng vọt và thấy những cánh bay của những chú cào cào bay qua bay lại trước cửa buồng. Lòng tôi mừng húm! Vì những con cào cào sẽ là những dấu chỉ của cuộc sống đang sinh động diễn ra, thứ nữa là tôi có thể … ăn được những chú mà tôi có thể vồ được. Tôi sẽ ăn các chú cào cào, vì nếu không ăn, tôi e rằng mình khó có thể sống mà không bị suy kiệt dinh dưỡng, đầu óc vì thế sẽ trở thành mông muội, sẽ thành đất cát mất … vả lại, tôi không ăn các chú thì các chú cũng chết, vì các chú sẽ chẳng biết lối đâu mà bay ra. Phần tôi, chắc chắn sẽ không đuổi theo các chú được, với cái đầu giờ cứ phải như người máy thế này. Đầu quay đi đâu là cả thân người phải quay theo thế ấy, không dám nhìn xuống, không dám nhìn lên. Tôi cần phải sống các bạn ạ.
Tôi ngồi như vậy với những đường bay của các chú cào cào, cả mấy mẹ thiêu thân cũng cắm đầu ra cắm đầu vào cái bóng đèn, có hai ba chú lọt vào buồng và quả nhiên là bay đâm loạn xà ngầu vào các ngách tường. Tôi chả dại gì mà đừng lên, nhất nữa là đuổi theo các chú. Đúng lúc tôi quan sát một chú cào cào đang bò trên tường thì phát hiện suy đoàn kiến lửa đang xa luân chiến cái mớ quà qúi báu mà Thố đã khôn khéo gói cho tôi: Túi mì gói Mikilét (hình như tên nguyên dạng là Mì Liên Kết).
Này thì không xong rồi. Ở cái đất này, hình như các loại sinh vật đều rất dễ nảy sinh hành vi thảo khấu. Đến mấy con muỗi cũng cư xử như thảo khấu và giờ là binh đoàn kiến vàng. Liên tưởng đến những gói mì bao bằng giấy bị hàng vạn những cái gọng hàm nghênh ngang kia liên thủ đục khoét thì … chẳng mấy chốc mà nát bét. Tôi bám tường cố đứng lên, chậm rãi bước đến cái nóc hòm gỗ. Giời ạ! Đúng là hàng sư đoàn! Mới chỉ có hai ba gói bị vỡ hàng rào phòng ngự. Tôi cầm chiếc túi có 10 gói mì, phì phì thổi thổi cho lũ kiến đang điên cuồng bới gặm phải rơi xuống nền buồng, nhưng rồi không biết phải để bọc mì khô ở đâu! Binh đoàn kiến thì đâu chúng cũng có thể mò tới mà tường thì không có mấu hay đinh, que, dây … gì để có thể treo. Cuối cùng thì miếng áo nhựa dùng để đi mưa đã được tôi nhớ ra, quấn 10 gói mì vào rồi tôi thả nổi nổi trên mặt cái bể nước trong nhà wc. 10 gói mì này sẽ là … sinh lực cho tôi hàng tháng hoặc có thể hơn cả tháng trời. Nó sẽ giúp tôi phấn đấu … Tôi đã ”ra chỉ tiêu” cứng rắn là mỗi ngày, 10 giờ tối tôi sẽ được tự ”thưởng” cho mình 1 phần 3 của lát mì gói Miliket kia.

Tôi về chỗ nằm, ngồi tựa vào tường. Bên anh Sương yên ắng như một khu nhà mồ …

Bỗng có tiếng dế gáy rõ to vang lên. Bỏ mẹ tôi rồi! Dế cơm Lam Sơn! Những con dế cơm không hề cơm tí nào! Chúng gáy hung dũng và to gấp năm sáu lần những con dế chiến của tôi thủa ấu thời. Làm sao mà bịt mồm con dế này được? Tôi tự hỏi trong đầu và từng bước đứng lên đi tìm cái ca đựng nước xối WC. Tôi múc một ca đầy, lò dò ngồi kiểu nước lụt rồi nhếch từng chút một tìm chỗ con dế ác liệt. Không thể nhân nhượng hay thơ ca lẩn thẩn gì được với trự dế cơm này. Tiếng gáy của y như muốn nong cả óc của tôi ra rồi.
Đây rồi, hai sợi râu của hắn thò hẳn ra một ngách đá ong sát chân tường, cao hơn măt nền buồng chừng 5cm! Này thì sao mà đổ nước vào cái ngách ấy! Chỉ còn nước là lấy cái ca đập vào miệng ngách hang bé tí cho hắn sợ mà”câm miệng” lại! Tôi đổ nước ra mép cửa, gõ gõ chiếc ca nhựa vào miệng hang! Thật đúng là thứ du côn! Hắn im được chưa tới 5 phút đã lại gáy tướng lên. Tôi lại mò đến miệng ngách hang, lại gõ gõ. Lần này hắn không thèm im luôn! Tôi gõ cứ gõ! Hắn gáy cứ gáy! Thậm chí còn có phần gay cấn hơn!

Tôi trở lại chỗ nằm. Kiểu này anh chàng dế chắc đã thành tinh, hắn chắc thèm một đối tác cộng sinh để giải tỏa nhu cầu ca hát. Vậy thì ta chỉ còn cách là lơ luôn hắn đi. Tôi định thần ngồi yên, bắt đầu khép chân bán già để tập tịnh tâm. Chàng dế không buông tha tôi. Hắn gáy một mình có vẻ không đã tai nên tỏ rõ thái độ nửa cám dỗ nửa khiêu khích. Hắn lẫm chẫm bò ra hẳn ngách, đứng oai phong sát tường và nền nhà, nhổng cái đít lên, khuỳnh hai cái càng đen đủi gớm ghiếc ra mà gáy, đầu hướng về phiá tôi ngồi. Giời ạ, dế gì đâu mà du côn quá trời! Hắn đen trùi nhũi, to bằng cả ngón tay cái của tôi! Khi tôi mới ra trại 5, ở khu cách ly bên khu nữ đã thấy một con ẩn trong ngách đá gần bờ giếng. Lúc ấy tôi đã rất ngạc nhiên vì cái sự ”cơm” của loài dế này. Nhưng con ấy so với con này coi bộ chỉ là hàng em út! Con này chắc đã thành tinh rồi!
“Đất không chịu giời thì giời phải chịu đất thôi”! Tôi ngẫm nghĩ và tìm cách nương theo âm thanh của cu dế này mà gieo các nhịp thở. Khốn nỗi cu chàng gáy chả theo một thứ tự hay âm giai hợp lý nào cả. Lúc thì hùng dũng sang trọng kiểu giao hưởng Beethoven, lúc lại như kiểu rèng rẹc ghẹ mái. Thật là quá quắt! Chừng hơn 1 giờ như thế, hắn bỗng im bặt, lần mò thu xếp kèn loa rồi chui vào cái khe ngách ấm yên của hắn. Trả lại cho căn buồng sự tĩnh mịch thật là héo hắt.

Tôi cố giữ nhịp nhàng cho các hơi thở, lược dần những sự suy nghĩ ra khỏi đầu, dù rất nhiều thứ đang thúc dục tôi phải nhớ lại từng sự việc để suy ra bản chất những điều đã đến với anh em chúng tôi trong ba tuần vừa qua. Điều lo lắng lớn nhất của tôi là Chinh và Thụy thì đã được giải tỏa. Các ảnh ở đây, cùng vơí tôi trong khu cùm kỷ luật này. Mà chuyện cùm kẹp đối mấy ổng thì chẳng có gì phải lo lắng. Họ đều là những cội đại thụ của A20 trong chuyện cùm kẹp!

Đúng lúc tôi bắt đầu có sự yên ắng nhẹ nhàng của các nhịp thở thì những âm thanh đập cùm ầm ầm vọng sang từ buồng sát vách buồng tôi, phiá dãy sau. Tiếng va đập cùm phải là của một người nào đó rất khỏe và rất lỳ đòn. Tiếng va cùm kiểu ấy, ngay như tôi cũng không dám làm, vì chắc chắn sẽ bật máu cổ chân!

Tiếng đập cùm cứ năm ba phút lại vang lên, dộng như nện vào đầu tôi sự công phá nặng trình trịch. Cán bộ không ai vào dù những tiếng chửi thề độc địa đã bật ra không còn đâu là giới hạn. Từ quản giáo đến giám thị, đều bị anh chàng lôi ra chửi không tiếc hơi sức. Gần 1 giờ liên tục như vậy. Nghỉ chừng 15 phút lại ”tăng ca”! Thật là thảm hại cho tôi nếu cứ phải chịu cảnh này. Hết thằng dế cơm ngổ ngáo lại đến anh chàng tù kỷ luật lên cơn điên. Kiểu này là không xong rồi! Sẽ không tập trung zô ga zô ghiếc gì được trong bối cảnh quái gở này. Tôi quyết định ”làm chủ tình thế”. Tôi gồng người nói lớn, chậm để âm thanh có thể dẫn truyền trọn vẹn sang cho ngươì đồng cảnh bất đắc dĩ.
- Này …anh…bạn…gì…ấy…ơi…!
Im ắng lạ lùng.Tôi gọi lại lần thứ hai y như vậy, thì có tiếng trả lời.
- Anh …gì …là …Việt…kiều… phải không?
- Ừ, Việt kiều Pháp đây!
Tôi đáp to từng tiếng và dặn anh ta cũng phải nói như vậy, nếu không thì lõm bõm rất khó nghe.
Tôi hỏi anh ta muốn gì? Anh ta bảo là chỉ muốn ra trại chung thôi, chứ ở đây chịu không nổi nữa rồi. Tôi hỏi chịu không nổi là sao? Anh ta bảo.
Thèm tiếng người! Giờ chúng nó chửi em, em cũng thích nghe!
Một cảm giác thương tâm bật lên trong lòng tôi. Chỉ một câu ngắn ngủi với âm giọng lõm bõm nhưng là thể hiện một nhu cầu thật là hết sức con người.
Tôi nhớ lại thời kỳ bị biệt giam ở B34, những tháng chờ ra tòa thật là đằng đẵng. Khi ấy tôi cũng có cảm giác thật thèm được nghe tiếng người. Cảm giác ấy, mấy mươi năm đầu của cuộc đời, tôi không bao giờ nghĩ là nó có trên cõi đời này! Đêm nay, một người tù xa lạ, cách tôi một bức tường đá dày hàng nửa thước, chân bị kẹp trong suốt cùm, dùng chính cái móng cùm đang thắt chặt ở cổ chân mà đập lấy đập để vào trụ cùm, mong đòi được nghe tiếng con người! Được sống bình thường như một con người tù bình thường ở trại chung...
Một ý nghĩ thoáng qua đầu và tôi lớn giọng gào tiếp tục.
- Này … Anh…Bạn…Bên…Kia… ơi!
Tiếng đáp ”em đây” rõ mồn một!
- Anh có muốn ra ngoài trại chung không?
Tiếng đáp ”C…ó …” rất to.
- Anh có sợ không?
- Em chả sợ gì sất!
Vậy tôi hét câu nào, anh lập lại câu ấy nhá! Lập lại giống y như tôi nhá …
Tiếng anh ta ”vâng ạ” lớn. Tôi lập lại.
- Hét giống y như tôi nhá!
- Vâng!
- Thề đi!
-Thề! Em Xin Thề!

Tôi đứng hẳn lên. Khom người chu mỏ ra ô cửa sắt, gào cật lực từng câu từng chữ.
- Đ. M. Hồ …chí… Minh…!
….!
Không tiếng đáp lại! Tôi gào lại lần nữa!
- Đ.M. Hồ… chí… Minh..!
- …
Tôi hoàn toàn không nghe bất cứ âm thanh gì thêm nữa. Hỏi với sang: ”Anh Gì Đâu Rồi …” chỉ là tiếng mấy con cào cào tạch xè bay qua bay lại trên đầu tôi, phiá cái bóng đèn mờ mờ nhợt nhạt.

Chừng 15 phút sau tiếng cổng cánh cửa sắt khu kỷ luật bật mở. Tôi cười thầm, ”giải thoát được cho ông rồi nhá”!

Tiếng cửa buồng phiá sau bật mở rất nhanh, tiếng lách cách tháo khoá và tiếng suốt cùm roèn roẹt kéo qua trụ sắt.

Từ đó, tôi không bao giờ gập lại người tù kỷ luật ấy nữa, một người đã thoát được khu cùm kỷ luật kinh hoàng mà đám hình sự gọi là khu cùm K Chết!

Tôi thiếp đi trong những âm thanh hỗn độn của tiếng người tru tréo, tiếng than thở, tiếng van cầu … và những người đàn ông đàn bà không quần áo đứng ngoài cửa buồng nhìn vào!
Đêm hầm cùm đầu tiên của khu kỷ luật Lam Sơn C trôi qua với nhiều những âm vang vọng lại đến cả suốt 20 năm sau của đời tôi.

Paris 9.1.2016
Phạm Văn Thành

$pageOut


Xin đọc Phần tiếp theo ==>
.


= = = = =

Chú Thích:

1: Phan văn Bàn Và Nụ Cười An Nhiên Khiêm Tốn
2: Toàn cảnh Mặt Trận Quốc Gia Giải Phóng Việt Nam - Mặt Trận Liên Tôn kháng cộng sau 1975
3: Người đàn ông đeo cây thánh giá
4: phamthanhnghien.blogspot.com
5: Thi đua: Tù phấn đấu đoái công chuộc lỗi.
6: Giếng tiên: Giếng rộng khoảng 4 mét từ bờ này sang bờ kia. Vì nhiều lý do, các chị em tù nữ thường đều tắm trần cả trên lẫn dưới.
7: “Trại Đầm Đùn”, truyện của Trần Văn Thái, Nhà xuất bản Nguyễn Trãi, 1969, Sài Gòn, Việt Nam

Đôi Lời Giới Thiệu Phóng sự tiểu thuyết Trại Đầm Đùn của nhà xuất bản:

Đã lâu lắm, chúng ta mới có một cuốn sách chống Cộng có một vóc dáng đầy đặn, chứa đựng một nội dung xúc tích, sống động và xác thực vượt hẳn lên trên những sách cùng loại xuất bản trong nước từ trước đến nay. Đó là cuốn phóng sự tiểu thuyết " Trại Đầm Đùn " của nhà văn TRẦN VĂN THÁI, được chấm hạng Ba, giải thưởng Văn Học Nghệ Thuật 1967-1969 của Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa trong 62 tác phẩm dự thi về bộ môn tiểu thuyết.

Thông thường, những sách chống Cộng được viết dưới hai hình thức. Một là chống Cộng bằng lý thuyết, tác giả nêu ra những lỗi lầm sơ hở của chủ nghĩa Cộng sản, những điểm không hợp thời, hoặc thoái hóa của chủ nghĩa Cộng sản, nói một cách khác tác giả đánh thẳng vào ý thức hệ Cộng sản bằng lý luận chánh trị, để bác khước chủ nghĩa này.

Hình thức thứ hai là mô tả những cảnh đọa đầy, khổ sở của người dân dưới chế độ tàn bạo, độc tài, bất công của Cộng sản để chứng minh rằng thiên đường Cộng sản là một chuyện không có, không thể có trên thế giới này. Trái lại, cuộc sống dưới chế độ Cộng sản còn nhọc nhằn, tủi cực hơn cuộc sống dưới bất cứ chế độ nào khác.

Viết cuốn TRẠI ĐẦM ĐÙN, nhà văn Trần Văn Thái đã dùng hình thức thứ hai, mô tả cuộc sống của những người bị đưa đi học tập lao động sản xuất tại một Trại Sản Xuất và Tiết Kiệm ở Tây Bắc tỉnh Thanh Hóa. Nói là Trại Sản Xuất và Tiết Kiệm nhưng thật ra, đó là trại giam thực sự mà những người điều khiển đã bóc lột sức lao động của " trại viên " đến xương tủy, khiến họ gục xuống chết tại chỗ. Bị khổ sai quá mức, bắt buộc phải thi đua tăng năng suất, bệnh mà không có thuốc, bị đòn phạt khi bị buộc là vi phạm luật lệ của nhà giam, tù nhân trại Đầm Đùn đã có thời gian chiếm kỷ lục về con số thương vong hàng tháng. Đã thế, trại viên lại phải sống thường xuyên trong một bầu không khí khủng bố tàn bạo, bị đem ra đánh, ra giết bất cứ lúc nào cũng được vì không có luật pháp nào bảo vệ cho họ, họ không biết kêu cứu với ai. Đối với nhà cầm quyền Việt Minh, những người bị giam hoặc bị khổ sai tại những trại sản xuất bị nhìn như những tên Việt gian phản động, có hại cho xã hội chủ nghĩa và gây phí tổn vô ích cho nhà nước Cộng sản.

Vì thế cho nên trong một trại sản xuất và tiết kiệm của Cộng sản, sự sống và sự chết đều vô nghĩa như nhau. Con người chỉ là một công cụ sản xuất của nhà nước trong những điều kiện vật chất ít tốn kém nhất, không sản xuất được nữa thì liện xuống hố, lấp đất là xong bất kể đã chết hay còn sống. Những viên chức điều khiển trại tất nhiên phải là đảng viên đảng Cộng sản, đối với tù nhân thì họ căm thù, hành hạ, nhưng đối với nhau, họ cũng tàn nhẫn không chút nương tay khi cần phải thanh toán một đồng chí có hại cho quyền lợi cá nhân hay bè phái. Họ là những người không có tim vì họ là Cộng sản, bạo lực là phương tiện sở trường và hữu hiệu nhất đối với họ.

***

Phóng sự tiểu thuyết Trại Đầm Đùn ghi lại rất nhiều mảnh sống của tù nhân trong một trại Sản xuất và Tiết kiệm của Việt Cộng. Nghĩa là một trại giam tàn bạo nhất, tàn bạo một cách thâm trầm độc địa theo lối Cộng sản Á châu. Tất nhiên trên thực tế, các mảnh sống này rời rạc xẩy ra trong nhiều thời gian và tại nhiều trại giam khác nhau ở Liên khu 3 và 4, nhà văn Trần Văn Thái đã ráp từng mảnh sống đó lại với nhau để tạo thành một cơ thể sống động, làm rùng mình biết bao độc giả và cho họ trông rõ bản chất hiếu sát của con người Cộng sản và bản chất phi nhân phi nghĩa của chế độ Cộng sản.

Một vai chánh trong truyện là một nhân vật thuộc giai cấp tiểu tư sản tên Trần Văn Toàn đang làm việc cho chính quyền quốc gia ở Hải Dương thì bị du kích Việt Minh bắt, đưa đi giam tại Trại Đầm Đùn. Cho tới khi hai bên Việt Minh và Pháp ký kết Hiệp định Geneva, Toàn mới được phóng thích cùng một số người sống sót và may mắn. Trong thời gian học tập lao động sản xuất với cả ngàn tội nhân khác, Toàn trông thấy, gặp biết bao cảnh khủng khiếp, chua xót, nhọc nhằn, hụt chết nhiều lần đến nỗi bao phen, anh muốn tự giải thoát khỏi kiếp sống tù đầy, nhục nhã. Nhưng không được vì con người - dù là tù nhân của Cộng sản - cần rất nhiều can đảm để sống thì cũng cần rất nhiều can đảm để chết. Vả lại, dần dà Toàn nhận thấy rằng chết không phải là một phương sách chống Cộng. Phải sống để đấu tranh chống Cộng đến cùng. Ít ra, cũng cứu được những thế hệ tương lai.

Cố chịu đựng mà sống, Toàn đã lần lượt được chứng kiến bao nhiêu sự việc chỉ con người máy Cộng sản mới làm được.

Nhờ tính cách xác thực và sự phong phú của các tài liệu sống, với một bút pháp điêu luyện, tác giả đã trình bày trên 500 trang giấy đời sống tù nhân trong một trại giam và làm chẩy nước mắt nhiều người. Có nhiều đoạn, người đọc cảm thấy tác giả đã viết bằng máu, nước mắt, tình thương và căm giận nữa khiến người đọc phải rùng mình khiếp hãi, nổi da gà như lên cơn rét.

Thật vậy, dưới chế độ Cộng sản, tai họa bất ngờ không biết đâu mà lường trước được. Miệng cán bộ, miệng đảng viên có gang có thép, họ bắt bẻ, buộc tội như thế nào, tù nhân cũng đành chịu, cán bộ bảo sống là sống, bảo chết là chết, tù nhân không thể nào tránh né được.

Bằng một lối văn tả chân sâu sắc, trong sáng và giản dị, tác giả đã lôi cuốn và làm say mê người đọc. Giản dị nhưng không rơi vào cái tầm thường. Trái lại là khác. Nhiều đoạn, độc giả bật cười trong khi dơm dớm nước mắt.

Để chứng minh nhận xét trên, tôi định trích dẫn ra đây vài đoạn đặc biệt nhưng không biết chọn đoạn nào. Vì những đoạn hay trong Trại Đầm Đùn nhiều quá, rải rác khắp cuốn truyện.

Chỉ xin nhắc sơ qua những đoạn tả chân như: Cảnh Đầu Trâu đánh đòn trừng phạt tù nhân bằng roi song mật khiến tù nhân bật tủy xương sống chịu không thấu phải nhai nát lưỡi tự tử " tại trận " trước mắt sáu, bẩy trăm người; đoạn tả ba người tù đói nhai một lúc bẩy tám củ su hào sống dưới ruộng đến no phưỡn bụng rồi chết vì bội thực trước sự chứng kiến bất lực của Giám thị; những đoạn tả cơn đói triền miên thê thảm của người tù bị " phong vương " phải nuốt thạch sùng cho qua cơn đói. Đoạn tả đòn tuốt nứa bắt độc giả rợn người, ớn xương sống, toát mồ hôi lạnh; đoạn tả người tù đói liếm đốt xương cá mỗi bữa ăn sau khi hít hít, ngửi ngửi lấy mùi tanh của cá còn sót lại; đoạn tả cảnh thở rèn đóng xiềng vào chân tù và cho tù nếm đòn trợt búa để đòi tiền hối lộ; đoạn tả tù phong vương cắt xiềng mở cùm rồi đào ngạch chui qua hàng rào trốn vào rừng, gặp bao cảnh giở khóc dở cười, giở sống dở chết... v.v... Nhiều lắm, những đoạn hay không kể hết được, tiếp nhau nối từ chương này đến chương khác để thêu dệt và trang trí cho một cốt truyện độc đáo có nhiều tình tiết đột ngột, sôi nổi, bất ngờ như truyện trinh thám, làm tăng giá trị cho nội dung một cuốn truyện chống Cộng bằng những hình ảnh xác thực trăm phần trăm

Với cuốn Trại Đầm Đùn, tác giả Trần Văn Thái đã có một hình dáng rõ rệt, đặc biệt trong những người cầm bút đứng đắn, tự trọng. Điều này không làm chúng ta ngạc nhiên khi ta biết " Trần Văn Thái " là một bút hiệu khác của nhà văn có một bút hiệu được nhiều người biết hơn: HOÀNG CHUNG (Nguyễn). Và cũng chính nhà văn này dưới một bút hiệu khác nữa THANH LÂM (Nguyễn), đã chiếm giải nhất và giải ba trong một cuộc thi truyện ngắn Phật giáo năm 1966 do Nha Tuyên Úy Phật giáo tổ chức để tuyển lựa những tác phẩm giá trị trên địa hạt văn nghê Phật giáo.

Với những người chưa có kinh nghiệm sống chung với Cộng sản. Trại Đầm Đùn sẽ cho họ biết rất nhiều về một phương diện của đời sống dưới chế độ Cộng sản và về thực chất của con người Cộng sản. Do đó, họ sẽ suy luận ra và phải có một thái độ chính trị thích hợp.

Nhất định TRẠI ĐẦM ĐÙN sẽ có một tác dụng hữu hiệu trong cuộc đấu tranh chung của miền Nam tự do: Chống Cộng Để Bảo Vệ Tự Do và Hạnh Phúc Của Chính Mình.


N.M. Ch.
Nhà xuất bản NGUYỄN TRÃI - Saigon 1969


8: Nhạc phẩm “Ông Lái Đò” - Nhạc và Lời của Hiếu Nghĩa, xuất bản lần đầu tại Bắc Việt, nhà xuất bản A.B.C. 1952, tái bản tại Saigon bởi nhà xuất bản An Phú (163 Lê Lợi Saigon) 1954 và nhiều lần về sau.

Lời ÔNG LÁI ĐÒ (Hình ảnh hai cuộc đời):

Tôi đã gặp một chiều trên bến nước
Ông lái đò ngồi đợi khách sang sông
Gió đưa nhẹ đôi hàng lau lả lướt
Ông lái buồn đưa mắt mỏi mòn trông

Một dĩ vãng từ ngàn xưa chiếu dội
Mỗi chiều về sống lại giữa hồn ông
Ông chỉ muốn cuộc đời xưa đen tối
Xóa nhòa đi trong cùng tận đáy lòng

Mới ngày nào trên bến sông vắng lặng
Đời buồn tênh như lỡ một cung đàn
Thuyền đò ông mang nặng sầu cô quạnh
Lặng lờ đưa bao khách lạ sang sông

Khách qua đò ngày xưa hờ hững quá
Trả công ông để lại một vài xu
Họ với ông hai cảnh đời xa lạ
Sang sông rồi không một tiếng phân ưu

Và cứ thế dòng đời trôi lặng lẽ
Bến ngày xưa tưởng ngủ mãi muôn đời
Ông lái đò trong tuổi già bóng xế
Còn mong gì tìm được ánh hồng tươi

Nhưng một hôm ánh hồng lên rực rỡ
Non sông rền một điệu nhạc oai hùng
Dòng sông xưa chuyển mình lên hăm hở
Muôn hoa tươi căng thẳng nhịp sống hùng

Ông lái đò giờ đây già yếu lắm
Cũng thấy lòng sống lại tuổi đôi mươi
Hồn rung mạnh trước cảnh đời tươi thắm
Nổi mừng vui không thốt được nên lời

Từ hôm đó bến đò ông sống dậy
Bao nhiêu chiều đưa đón khách sang sông
Những người khách không giống ngày xưa ấy
Họ về đây lòng nặng trĩu bên lòng

Họ về đây bụi đường vương nếp áo
Đường xa xôi tóc lộng gió tơi bời
Họ đi rồi ông thấy buồn áo não
Vì họ qua bến ấy một lần thôi

Và từ đó bên hàng lau lả lướt
Khách ngày xưa không trở lại sang sông
Nên mỗi chiều thả thuyền theo bến nước
Ông lái đò đưa mắt mỏi mòn trông




Các comments từ trang FB Phạm văn Thành từ Jan. 4 đến Jan. 6, 2016:

Comments
Vu Minh
Vu Minh Adidaphat.heroprison
Dung Phan
Dung Phan Xem mà ứa nước mắt
Nghia Bui
Nghia Bui Đọc chẳng khác nào Solzhenitsyn...
Phạm Văn Thành
Phạm Văn Thành Tạ lòng anh ! Viết như một mối nợ anh ạ . Sẽ cố gắng để hoàn thành tập " Đường Về Mây Trắng Bay " theo dạg tự truyện .
Lê Tùng Châu
Write a reply...



Đặng Bích Phượng
Đặng Bích Phượng Ảnh này ai chụp đc vậy Phạm Văn Thành?
Phạm Văn Thành
Phạm Văn Thành Ảnh này cũng không biết ai chụp được . Chắc là tư liệu riêng vủa một số cán bộ thời 1978.
Cảnh này mình có nhìn thấy tân mắt ở trại L19 Long Khánh. Họ làm y chang thế này , đặt gần ngay cổng trại tù L19. Long Khánh. Mình trong một làn đưa mẹ đi thăm ông anh . Khô g được gập. Đứng ngoài cổ g trại. Nhìn tận mắt một người nằm y như vậy . Giữa trưa nắng .Năm 1977.
Like · Reply · 7 · Yesterday at 1:27pm · Edited
Haihien Cao
Haihien Cao Dã man !
Lê Tùng Châu
Write a reply...



Nga Pham
Nga Pham Những ghi chép này có làm thành sách không ạ?
Phạm Văn Thành
Phạm Văn Thành Thời giờ ít ỏi quá . Có chút nào thì viết chút nấy , như môht bản thảo , vì sợ quên hết ( mà cũbg đã quên nhiều ....) . Khi có dủ thời gian sẽ chắt chiu gò lại cẩn thận . Chắc chắn phải ra sách ( không bán ) vì có quá nhiều hì h ảnh của " những người đ...See More
Nghia Bui
Nghia Bui Khi nào làm sách tớ sẽ dịch sang tiếng Anh cho bác.
Nga Pham
Nga Pham Phạm Văn Thành Dạ, chờ đón cuốn sách tư liệu quý ạ!
Phạm Văn Thành
Phạm Văn Thành Tạ lòng abh Nghĩa. Tạ tình bạn hiền Nga Phạm !
Lê Tùng Châu
Write a reply...



Tuyet Mai Luu
Tuyet Mai Luu Nhìn mà nước mắt tuôn trào,
Hận thù anh đổi trên đầu dân ta 
Cớ sao gây nổi sot sa ...See More
Anh Thu Nguyen
Anh Thu Nguyen Em chẳng biết nói gì chỉ cảm thấy sống mũi cay cay...
Anh Thu Nguyen
Anh Thu Nguyen Em chờ đọc cuốn tự truyện của anh
Phạm Văn Thành
Phạm Văn Thành Sẽ cố gắng bạn hiền.
Lê Tùng Châu
Write a reply...



Vu Tung Son
Vu Tung Son Cho em hỏi chút . Làm sao các anh có được con gà đệ cúng ?
Like · Reply · 1 · 23 hrs
Phạm Văn Thành
Phạm Văn Thành Trai tù số 5 cũng như những trại tù khác , đều có canteen để bán đồ dùng hàng ngày cho tù nhân . Giá dĩ nhiên là cao hơn ben ngoài . Vấn đề là ai có tiền để mua ( tiền vào trại biến thành tiền lưu ký , nghĩa là có một ban về tài chánh của trại họ giữ) . Tù nhân có tiền thân nhân gởi , được tiêu tiền ( lưu ký) của mình tùy theo sự cho phép của ban giám thi qui định là bao nhiêu tiền mỗi tháng. Qui dịnh này không giống nhau đối vơi từng trường hợp phạm nhân . Lấy thí dụ thực tế như tôi là một tù đối lập chính trị , dù trên bộ luât hình sự của chế độ tôi vẫn phải mang bản án và tội danh hình sự ... nhưng qui dịnh ngặt nghèo đạc biệt. Qui định dành cho tôi là dược tieu tiền lưu ký của mình 11 usd / tháng. Nhưng cũng là tù án danh giống như tôi , cũng là từ ngoại quốc về , có nhiều người được tieu 6 , 7 mươi đô la / tháng thậm chí trăm đôla !..
Đây là cả một "chính sách " có điều nghiên chặt chẽ và liên hệ trực tiếp với một ban bệ riêng ở trung ương hanoi. Lúc bấy giờ Lê văn Sáu là sĩ quan thiếu tá công an V26 Thanh hóa được đặc cách nâng quyền hạn để trở thành nhân lực làm việc trực tiếp với trung ương TC2 , vì sự vụ của đội tù a20 ra Thanh hóa từ Phú Yên . Nay Lê văn Sáu là nhân vật phó tổng giám thị liên trại đăc trách chính trị ( hình như giờ là đại tá ).
Tuyệt đại đa số tù nhân mang án danh giống như tôi mà là ngườu nội địa , đều không có tiền lưu ký và một năm gia dình chỉ đi thăm may ra được 1 lần , vì nghèo và quá xa xôi. Những người án tù đã trên 12 năm thường là gia đình đã mát hẳn khả năng thăm nuôi !
Like · Reply · 3 · 14 hrs · Edited
Vu Tung Son
Vu Tung Son Cảm ơn anh .
Lần sau nếu anh có ghé về Sài Gòn , cho phép em được mời ly rượu , hay đơn giản chỉ là một cái nắm tay .
Trân trọng .
Like · Reply · 1 · 9 hrs
Phạm Văn Thành
Phạm Văn Thành Ấm lòng ghê ! Nhớ nghen !
Like · Reply · 1 · 6 hrs
Lê Tùng Châu
Write a reply...



Nguyễn Thành Nam
Nguyễn Thành Nam Tội ác từ lòng căm thù. Cái mà cs nuôi dưỡng trong lòng đất nước rất nhiều nên vn luôn nhiều tội ác
Like · Reply · 21 hrs
Phạm Thanh Nghiên
Phạm Thanh Nghiên Những áng văn giá trị.
Like · Reply · 10 hrs
Phạm Văn Thành
Phạm Văn Thành Phải đem hết ruột gan những trại tù ra . Anh em mình đồbg lòng nhau cùng làm nha óc tiêu ! Cái trại ấy năm 1995 là kỷ niêm 50 năm liên tiếo NHẬN LÁ CỜ ĐẦU CỦA NGÀNH V26 QUẢN LÝ TRẠI GIAM .
Họ không jawrn là ác hơn các trại khác , mà là ở dó là kỷ luật thép !
Like · Reply · 1 · 5 hrs
Lê Tùng Châu
Write a reply...



Thihuong Tran
Thihuong Tran Ác quá ...xin lỗi anh ,xin lỗi các bạn .
Like · Reply · 1 · 10 hrs
Phạm Văn Thành
Phạm Văn Thành Là chuyện thời thế chị Hường ui ! 
... lời chị viết , dù chỉ năm ba con chữ ... nhưng toi biết chắc lớp đàn anh của chúng tôi sẽ rất xúc động !
Nhưng những y sĩ chân thành như chị , hoàn toàn không có lỗi gì cả trong cuộc tang thương này !
... theo dõi fB của chúng ta có nhiều người từng ở trại An Điềm ! Những người còn sống của thời chị đã từng đến đấy... sẽ rất ấm lòng khi biết được tâm tình của chị.
Tôi có người anh án tử hình cùng với ông Kiều đình Thanh / Quảng Nam 1884 . Án tử hình ấy bị phản đối bởi chính phủ Thụy điển nặng nề ... nên ông Phạm Hùng lúc ấy đã hạ án thành chung thân . Anh ấy từng ở trại An Điềm và cũng có nặt trên làng fB ( nhưng họ sẽ không bao giờ lên tiếng ...).
Anh Huỳnh ngọc Tuấn 1993 cũng từng ở An Điềm ...
Mong chị luôn bình an cùng gia đình thân yêu.
Xin tri ân tấm lòng của chị đã có với các người anh của tôi .
Like · Reply · 2 · 4 hrs · Edited
Thihuong Tran
Thihuong Tran Anh hỏi chú Phạm Hùng có nhớ đến đoàn y tế của chúng tôi không ?
Like · Reply · 21 mins
Lê Tùng Châu
Lê Tùng Châu Thihuong Tran xin nhắc chị là Phạm Hùng mà anh Phạm Văn Thành nói tới trên đây là bô trưởng công an của Việt cộng thời thập niên 80 (bên trên anh Thành viết nhầm 1984 thành 1884). Phạm Hùng đã chết 1988 nghe đồn là do bị thanh toán bởi tranh giành đấu đá ở thượng tầng cộng sản Hanoi.
Like · Reply · 1 · 6 mins
Thihuong Tran
Thihuong Tran Cảm ơn bạn ,thời tôi ở đó là 1978-1979 ....
Unlike · Reply · 1 · 3 mins
Lê Tùng Châu
Write a reply...



Anh Thu Nguyen
Anh Thu Nguyen Bạn Vu Tung Son ơi, anh Thành đã bị cấm không dc trở về Việt Nam nữa rồi... Cái lũ súc sinh nó đã y án cho anh ấy...
Like · Reply · 2 · 8 hrs
Phạm Văn Thành
Phạm Văn Thành Họ không còn bao lâu đâu bạn hiền !
Like · Reply · 2 · 6 hrs
Lê Tùng Châu
Write a reply...

Cecilia Duan
Cecilia Duan Cảm ơn chú. Con đọc bài này 1 lần, rồi 2 lần, 3 lần, lần nào cũng trào nước mắt nhớ đến cha, ông của mình...dù đã được nghe kể lại từ thời là con trẻ mà chưa bao giờ được nhìn thấy rõ ràng cảnh tượng địa ngục trần gian như vầy, cái nơi đã giết chết ông nội mình. Con cảm ơn chú.
Unlike · Reply · 4 · 4 hrs
Phạm Văn Thành
Phạm Văn Thành Một đoạn trường cay đắng bạn ạ. 
Họ đã chết ( hoạc cofn sống mà như đã chết vì yếu , nghèo , kém kỹ thhuat thôg tin hiện đại...). 
Nhưbg họ là những anh hùng . Họ là chứng nhaan trong bóng tối. 
Lịch sử phải có những trang nghiêm chỉnh về họ và gia dình họ . Những gia dình 20 năm nuôi tù trước sự lạbh lùng của cộbg dồ g dân tộc ...
Unlike · Reply · 4 · 1 hr
Cecilia Duan
Cecilia Duan Dạ, đúng vậy chú ơi. Nhưng nhờ vậy mà con chưa từng tin vào bất cứ lời nói nào của "nền giáo dục đỏ", vì lịch sử được kể bằng máu, nước mắt và cả mạng sống của cha ông mình thì luôn là sự thật mãi mãi. Con cảm ơn chú.
Like · Reply · 2 · 1 hr
Lê Tùng Châu
Write a reply...

Doan Hoa
Doan Hoa Phạm Văn Thành: Cố gắng thu thập những tấm hình như vậy để sau này đưa vào viện bảo tàng "Tội ác cộng sản".
Like · Reply · 2 · 1 hr
Phạm Văn Thành
Phạm Văn Thành Tấm ảnh laii em có hỏi mấy người chuyên nghiệp. Họ bảo là 80 % là ảnh thực. 
Với em . Cảnh này là đăc thù. 
Những tấm "ki" để lót mặt những phi đạo dã chiến hoạc để quan đôi Mỹ xây dựng những cây cầu cấp tốc đã dược tận dụng để làm các khoang nhốt tù bị kỷ luật... là phổ biến ở miền Nam thời 1975 - 1980 . Vật dụng đặc thù đó sau 1985 dã thành cưc hiếm ở VN.
Em nghĩ tấm hình này là thực .
Like · Reply · 2 · 1 hr
Lê Tùng Châu
Lê Tùng Châu Xin góp chút tư liệu về các vật dụng cũ trước 1975 mà quý bạn đang nói tới: . 
1: Conex: Chữ conex là do bởi sự ghép lại 2 tiếp đầu ngữ của hai chữ container và express. Tạm dịch conex là thùng sắt chứa hàng dùng cho ngành vận chuyển. Trong thời chiến tranh Việt Nam trước năm 75, quân đội Mỹ thường dùng conex để chuyên chở súng đạn, lương thực, dụng cụ, từ Mỹ (và nước Đồng Minh) qua Việt Nam bằng hàng không hoặc đường thủy. Sau chiến tranh, Việt cộng dùng conex để giam tù nhân: có lẽ đây là 1 "sáng kiến" gian ác mà các nhà tư bản Mỹ không sao ngờ tới!

2: Ri sắt: phiên âm từ chữ "grille" tức "vĩ sắt" của Mỹ dùng để lót phi đạo cho những phi trường dã chiến trong chiến tranh Việt Nam.
Like · Reply · 2 · 1 hr
Lê Tùng Châu
Lê Tùng Châu Còn vật có tên là "Ky" trong bài anh Phạm Văn Thànhthực ra chỉ là một loại cáng (copy kiểu của cái băng ca cứu thương -brancard, tiếng Pháp). Cáng hay Ky này là loại vật dụng thô sơ thường được đan bằng tre, dùng tạm 1 lúc khi làm việc trong rừng núi hay nương rẫy thôi.

Like · Reply · 2 · 1 hr · Edited
-


.

1 comment:

  1. Jetstar khuyến mãi: Ba tiếng mỗi ngày – Thỏa ước mơ bay! với giá vé chỉ từ 11.000đ tất cả các ngày trong tuần. Chương trình áp dụng cho các đường bay nội địa và quốc tế.

    Xem thêm về Jetstar: Giá vé máy bay Jetstar | Săn vé máy bay giá rẻ đi Sài Gòn | Đặt vé Jetstar giá rẻ

    ReplyDelete