Saturday, December 12, 2015

Câu chuyện buồn từ Thụy Sĩ

by Phạm văn Thành, Dec. 12, 2015


Câu chuyện buồn từ Thụy Sĩ


trong một buổi Hội Thảo Nhân Quyền cho Việt Nam tại Paris, 1999 - từ trái: Một chức sắc Cao Đài, Thầy Minh Tâm, và cựu tù Phạm Anh Dũng - ảnh tư liệu của Phạm Văn Thành

. . .


Tôi nhớ là khoảng đầu hay giữa năm 1999, trời còn khá lạnh. Hòa thượng Thích Minh Tâm nói vơí hai chúng tôi.
- Các anh nên đi ủng hộ tinh thần cho họ. Đừng chấp nê họ được ai tài trợ. Chuyện chung mỗi người chia một việc …
Anh Phạm Anh Dũng và tôi khi ấy mới ra tù được vài tháng, nghe lời vị đạo sư tôi và anh Dũng chuẩn bị xe lên đường vào sáng sớm hôm sau.
Đó là chuyến đi nhằm hỗ trợ tinh thần cho anh chị em bên đoàn Hưng Ca, từ Mỹ sang Âu châu lưu diễn trong mục tiêu hô hào đấu tranh nhân quyền. Đoàn do anh Nguyễn Khanh dẫn, có cả luật sư Nguyễn xuân Nghĩa và Việt Dũng cùng Nguyệt Ánh.

Buổi sáng sớm tôi y hẹn do thày Minh Tâm chỉ tới địa điểm xuất phát. Bước vào căn nhà các anh chị đang chuẩn bị khởi hành, lên tiếng chào … không ai trả lời! Các anh chị nhìn tôi như một kẻ xấu xa nào đó, đang cố bám theo anh chị để dành phần chi đó! Những ánh mắt làm tôi chưng hửng. Anh Dũng lặng lẽ đi trở ra ngoài xe ngồi đợi. Khi đã ngồi ghế bên cạnh, anh hỏi.
- Sao, đi chứ ?
- Vâng, đi anh ạ!
- Mệt đấy nha Thành! Họ như không muốn sự có mặt của ta…
- Kệ thôi anh! Thày bảo mình đi thì mình cứ đi, hơn nữa họ cũng rất xa lạ với địa hình Âu châu, coi như ta làm hai kẻ hộ tống. . . vả lại, bên ấy tổ chức hội thảo về nhân quyền, ta không đi cũng không được.

Lễ ra mắt Hiệp Hội Nhân Quyền cho Việt Nam tại Paris, 12/12/1999 - từ trái: Bs Nguyễn Ngọc Qùy, cựu tù Lê hoàn Sơn, nữ sĩ Vân Hải, cựu tù Phạm anh Dũng, nghệ sĩ Lê Thuấn, cư sĩ Lâm Chánh Dung, cựu tù Phạm văn Thành - ảnh tư liệu của Phạm Văn Thành

Thế rồi con đường từ Paris sang Thụy Sĩ, xe tôi và anh Dũng bám theo đoàn xe của anh chị em Hưng Ca. Vài lần dừng xe nghỉ đổ xăng, trao đổi lạt lẽo như chưa từng bao giờ gặp nhau, chưa từng có chung bất kỳ một chiến tuyến nào với nhau! Lạnh lẽo đến gai người!
Anh Dũng và tôi ngậm ngùi bám sát đoàn xe cho tơí khi tới hội trường. Trời đã tối. Hội trường gần bắt đầu, khoảng gần 200 đồng hương tụ về từ Geneve và vài tỉnh phụ cận. Trên khu vực chủ tọa buổi hội thảo kê hàng ghế ngang hơn chục anh chị Hưng Ca ngồi nhìn xuống khoảng 150 người lọt thỏm trong một hội trường chứa khoảng 400 ghế. Có tiếng mấy người cựu quân nhân nói khá to khi nhận ra tôi và anh Phạm anh Dũng. Một góc cuối của hội trường nhốn nháo hẳn lên. Bốn năm người chạy lên chạy xuống nói năng chỉ trỏ với ban tổ chức nhắm về hướng hai chúng tôi đang đứng cuối hội trường. Tôi nói nhỏ với anh Dũng.
- Có lẽ ta phải biến khỏi đây! Tình hình có vẻ căng giữa mấy anh bên Hội Cựu Quân Nhân và ban tổ chức!
Anh Dũng đảo mắt nhìn quanh, lại bốn năm người bạn học cũ thời 1965 nhận ra anh Dũng, chạy lại bắt tay… và không khí thật sự căng lên.
- Tại sao lại quái lạ như vậy. Thảo luận về nhân quyền mà có hai người vừa từ nhà tù cộng sản trong nước trở về Pháp, lại không mời lên, mặc dù anh em yêu cầu!
Tôi nói nhỏ để anh Dũng dứt khoát chào và rút khỏi hội trường ngay. Tránh tình trạng rối ren có nguy cơ tăng lên, rất bất lợi. Dũng chào, nói là vì đau đầu bất ngờ nên phải rời về phòng nghỉ ngay.

cựu tù Phạm Anh Dũng - Lễ ra mắt Hiệp Hội Nhân Quyền cho Việt Nam tại Paris, 12/12/1999 - ảnh tư liệu của Phạm Văn Thành

cũng trong Lễ ra mắt Hiệp Hội Nhân Quyền cho Việt Nam tại Paris, 12/12/1999. Từ trái: nhà văn Trương Nhân Tuấn, một ân nhân nữ sĩ, Ngục sỹ / Thi sĩ / cựu tù cộng sản Nguyễn Chí Thiện [1939 - 2012], và nhà thơ Đỗ Bình - ảnh tư liệu của Phạm Văn Thành

Tôi và anh Dũng đi ra chỗ đậu xe. Tâm trạng thật khó diễn tả. Dũng đốt một điếu thuốc, đứng giữa parking, nói theo hơi thuốc phà mạnh ra.
- Chắc họ nghĩ ta đu vó để kiếm chút tiếng tăm!. .

Dũng từng là phó giám đốc thương mại của IBM Pháp trước khi về VN và vào tù. Tư thế ấy là tư thế không mấy ngươì có được. Tôi cũng không tránh được cảm giác ngậm ngùi xen lẫn bẽ bàng khi nghĩ đến đoạn đường hơn ngàn cây số chạy ngược trở về Paris, đường dài đơn độc còn có một xe!

Đúng khi bánh lái vừa bẻ để ra khỏi chỗ đậu thì một chiếc Bordeaux màu đỏ trờ tới. Cửa xe bật mở. Một người đàn bà trẻ bước ra khỏi xe đến bên cửa lái của xe chúng tôi. Kiếng xe quay xuống. Người đàn bà tóc dài, khom mình mời tôi và anh Dũng ra khỏi xe để xin nói chuyện. Mùi nưóc hoa Chanel phảng phất một cảm giác êm dịu. Giọng Huế nhẹ như một sợi mây vừa tỏa xuống nóc xe. Dũng nhìn tôi rồi rà số cho xe trở lại vị trí đậu ban nãy. Khi tôi và Dũng ra khỏi xe cũng là lúc từ trong chiếc Bordeaux bước ra thêm một người. Một người đàn ông lưng đã có dáng khòng khòng. Người phụ nữ đến bên ngưòi đàn ông, hai tay giữ một bên cánh tay của người vừa xuất hiện. Từ đây, người phụ nữ hầu như không còn nói nữa.
Người đàn ông.
- Thât là hạnh ngộ! Duyên nợ này khó giải thích đây! Anh Dũng anh Thành. Rất muốn được uống vơí nhau vài cốc rượu, trên đỉnh núi kia …
Ông chỉ tay lên bầu trời phía có lốm đốm những vì sao le lói! Tôi mơ hồ biết là phía ấy có một cái hồ lớn, chênh vênh trên núi cao. Một cảm giác hải hồ len mạnh vào tâm trí. Tại sao lại không nhỉ ? Đất trời này, từ Đầm Đùn bước ra được thì còn ngán sợ cóc thằng giang hồ nào! Tôi nhìn Dũng. Dũng khoát tay, ừ thì đi!
- Có vậy chứ! Tứ hải giai huynh đệ! Nghe mấy ông đã đầy tai, dịp này quỷ thần sắp đặt, không uống ngất ngưởng có chăng là thằng tào lao salon bốc phét!

Tôi kín đáo quan sát người đàn ông. Dáng ngươì cao tầm ngang ngửa với tôi, đặc biệt đôi tay dài bất thường. Mái tóc đen chắc chắn là do nhuộm. Giọng thổ ấm và ẩn dấu những hơi rung. Mắt rất sáng và như có vẻ bất cần sự đời. Người thế này chắc chắn không thể là hạng tầm thường, cộng với cung cách của người phụ nữ và chiếc bordeaux cực đắt tiền, mơ hồ tôi dậy lên cảm giác không dấu được sự kính trọng. Điều ít có trong sinh hoạt đời sống của tôi, khi mới gặp những người mới quen lần đầu, nhất là trong bóng đêm và xử dụng những loại xe của giới thượng lưu!

Hai chiếc xe nối đuôi nhau vòng ra quốc lộ rồi cùng trườn lên đỉnh núi. Người phụ nữ lái chiếc Bordeaux với những đường cua hẹp rất vững vàng. Hai bên đường le lói những quán nhạc, bờ hồ hiện ra, bát ngát và có phần liêu trai. Xa xa là đèn phố chìm dưới vài giải mây đêm phơ phất. Cảnh trí ban đêm u trầm mà hoành tráng.
Bốn người dừng trước một quán rượu vẳng ra tiếng Guitar Cổ điển. Tôi nhìn anh Dũng, lắc đầu.
- Bỏ mẹ rồi! Nhạc này, chết cũng không say được!
-
Tiếng cười của người đàn ông phá lên ngay cửa quán đúng lúc một tiếng kèn trompet cất lên cao vút, rền rĩ, ngay bản "Cầu sông Kwai"! Chân tôi như cảm giác bước hụt! Không lẽ ma đưa lối qủy dẫn đường! Bản nhạc này là bản nhạc từ thời 1981, mỗi lần nghe là lòng tôi tràn ngập hình ảnh cuộc chia ly thảm khốc trên biển của anh em chúng tôi. Cuộc chia ly để lại mình tôi trên cuộc đời trần gian ô trọc này! Ân tình đồng đội và những khắc khoải của chuyện bèo mây mơ ước, đội đá vá trời!

Đêm ấy là đêm lần đầu tôi uống nhiều mà không say được. Mắt mờ ảo chao theo những đôi chân sung mãn dặt dìu những điệu luân vũ xa xôi. Năm ba người thiếu nữ xinh tươi sà vào bàn rượu. Người đàn ông điệu nghệ và những tiếng cười thân ái. Tôi nhớ cực kỳ đến anh em tôi, Lê thiện Quang, Phan Văn Bàn, Dương Văn Sĩ, Đố bạch Thố, Trần Long, Trần Lương, Trần Phương. Nhớ tiếng đàn Lê Thụ và tiếng hát đục khàn lao lý. Nhớ Hoàng Chinh và dãy buồng cùm chân núi Mành. Nhớ tiếng đàn và lời hát mộc mạc bao la của Y Rứ, Y Blot. . . trong gian buồng cách ly chật hẹp nơi vùng đất xứ Thanh muộn phiền.

Người phụ nữ im lặng quan sát. Bà uống rất ít, luôn để ý từng cử chỉ của người trong bàn cùng những bàn chung quanh. Ngươì đàn ông nói không nhiều. Phạm Dũng cũng không nói nhiều. Hình như cả bọn chỉ uống và uống. Uống tiếng nhạc. Uống những điệu nhảy mê đắm lả lơi. Uống tiếng lòng của nhau ẩn khuất trong tiếng nhạc. Ba bốn người nhạc công chơi những bản nhạc gần như chỉ dành cho những kẻ lang bạt hải hồ, lòng đau đáu một chốn quay về, nơi chốn mà người đời gọi là quê hương. . . mãi đến khi đứng lên ra về, tôi mới biết là nhóm nhạc đã chủ ý chọn những bài nhạc gần như đặc biệt dành cho bàn của chúng tôi. Không thể không trân trọng cách chơi điệu nghệ của người đàn ông lang bạt khó hiểu này.

Xe xuống núi, xuyên qua thành phố vào một vùng ngoại ô yên tĩnh. Dũng ôm volant rất đắt giá, không hổ danh là ngươì từng trong giới đua xe.

Khu nhà ấm ẩn mình trong những tàn cây cổ thụ, phiá sau nhà là một thung lũng hẹp rồi đến bìa rừng, trời đã pha sắc sáng.

- Giờ thì ta ngủ. Chỗ ngủ của mỗi người đã có chuẩn bị cẩn thận!
Tiếng người đàn ông đầm ấm vang lên trong căn nhà vốn đã ấm vơí những ngọn bạch lạp.
Dũng tắm xong vào phòng, tiếng ngáy nhẹ vang lên. Tôi không thể ngủ. Một cảm giác lạ kỳ xâm lấn. Tôi lần mò vào ngăn bếp bật máy cà phê, ngồi một mình trong ô cửa bếp nhìn ra thung lũng hẹp đang có ánh sáng ban mai phủ dần lên những hàng cây xám ven bìa rừng. Bỗng một tiếng khánh vang lên. Tiếng khánh nhẹ nhàng của người chuyên chú tịnh tâm và hàm ẩn một nội công khác thường. Tôi đứng lên đi lại gần cửa gian bếp, hướng nhìn về nơi phát ra tiếng khánh. Bóng một ngươì đàn ông đang ngồi kiểu samourai, lưng thằng đứng toàn thân bất động trước một tủ thờ gỗ nâu uy nghi. Dáng lưng ấy không thể là dáng lưng của người đàn ông đã uống rượu với tôi và Dũng suốt đêm qua.

* * *

Trước măt tôi là hai bố con. Dũng và tôi ngồi chung cùng một salon. Bữa ăn sáng muộn màng được người phụ nữ mà người đàn ông thanh niên gọi là Dì, chuẩn bị kỹ lưỡng. Bánh mì còn nóng, mật ong và những đĩa trứng chiên vừa đủ chín hồng đào. Tôi sống đời binh lính hải hồ, rất hiếm khi có được đĩa trứng chín hồng đào như thế này để nhẩn nha cho một bữa sáng.

Nguyên ngày hôm ấy chúng tôi nói chuyện về đủ các lãnh vực. Hai cha con hiểu biết rất nhiều nhưng nói rất chừng mực. Đây là sự khác biệt mà tôi thường gập nơi những người trong giới thượng lưu Việt sống rải rác khắp năm châu.

Đó là một người đàn ông được ông Nhu đặt kỳ vọng sẽ nắm guồng máy an ninh phản gián của chế độ Đệ Nhất Cộng Hòa sau 1965!

Cuộc thảm tử của anh em ông Diệm đã để lại một nhân vật bí hiểm đang du học tại Luân đôn hai năm cuối của ngành tình báo đặc biệt. Trong câu chuyện ở ông, bàng bạc những cánh Dù xuất thân từ Đàlạt năm nào! Tất cả những người hùng của binh chủng mũ đỏ ấy, ông đều bốc điện thoại mày tao chí tớ, thân mật ngọt ngào! Thậm chí đến một người ẩn dật là Bùi đức Trọng, người rã đám vơí Ông Hoàng cơ Minh, từ Ubon ra hải ngoại 1983 và rơì tổ chức, không trở lại Thái… ông cũng mày tao chí tớ thân tình …

- Ngày ấy anh đi, chúng nó cũng chả biết anh đi đâu! Sống như bọn chúng nó thích thật…
- Giờ vẫn gặp nhau. Già rồi! Tất cả đã trôi qua quá nhanh - Ông nói, âm giọng pha đầy những ngậm ngùi.
- Giòng họ bây giờ, cháu nó là đích tôn. Xương cốt cụ vẫn còn là một bí ẩn – Ông nói, mắt nhìn về hướng người con trai – Anh đã hai lần tìm đến vùng đất ấy, chưa hoàn toàn được manh mối!

Tôi và Phạm Dũng cùng yên lặng. Vài giờ trước, người cha có cho chúng tôi xem một tập gia phả. Cả tôi và Dũng đều giật bắn mình khi được người con dịch từng câu từng chữ của tập gia phả cũ kỹ. Tập gia phả của dòng họ Nguyễn Bặc mà ngươì thanh niên đích tôn đang quỳ cạnh chúng tôi dịch từng câu từng chữ của sổ phả … chính là cháu chắt đích tôn của nhà cách mạng Tôn Thất Thuyết. Người nổi tiếng với bài thơ Bến Văn Lâu cùng vị hoàng đế trác tuyệt triều Nguyễn đã để lại cho đời câu hỏi thốn đau tim óc:
« Tay dơ lấy nước mà rửa
Nước dơ lấy gì mà rửa »

- Cuộc đời, quá nhiều chuyện xảy ra ngoài hẳn tầm tiên liệu của chúng ta. Anh đã 40 năm xa đất nước. Tất cả chí hướng gói hết vào thằng con. Anh bỏ Anh quốc, ẩn dật sang đây và lao vào thị trường tài chính, học từ chữ A chử B … để ngày hôm nay, cháu nó có được đủ nghị lực để bằng vai với những nhà tài chánh sừng sõ nhất nhì thế giới …

Người đàn ông nói hết sức thân tình. Ông ta thừa hiều nếu nói quá, sẽ không qua mặt được Dũng. Dũng là thứ hạng không vừa gì của giới tài chính Pháp. Suốt buổi trưa, Dũng và ngươì đan ông đã nói rất nhiều thứ chuyện. Có những chuyện vượt rất xa tầm hiểu biết và phán đoán của tôi. Và nguyên một ngày trời, đầu óc tôi ám ảnh gần như trọn vẹn vào tiếng khánh ban sáng và cuốn sổ phả của gia đình này. Từ dòng Nguyễn Bặc của thời lập quốc ra nhà Lý đến Tôn thất Thuyết với triều đình nhà Nguyễn dòng chí cường Hàm Nghi Thành Thái Duy Tân, ba đời hoàng đế lưu lạc! Một cảm giác lạ lùng xâm chiếm tâm hồn tôi khi hình dung đến những bí mật mà anh em ông Diệm đã mang theo, về một nỗ lực an ninh tình báo mà họ đã đặt vào vai người con cháu dòng đích tôn của Tôn Thất Thuyết, về hình ảnh lưu vọng của người thanh niên mang dòng dòng máu hào kiệt trác tuyệt Nguyễn Bặc Tôn Thất Thuyết và về vị trí đứng trong hàng top 10 của những nhân lực quyền lực tài chánh trong giơí ngân hàng Thụy Sĩ.


* * *

Ngày thứ ba, ông nói vơí tôi.
- Tình hình còn sớm, em phải chậm bước lại. Anh đang có riêng hai khách sạn ở Nice, có vài nhà hàng ở Bruxelle… em có thể giữ một cái để vừa học vừa làm, vừa gom góp tài chính. Anh cần em 6 năm không dính đến chuyện chính trị chính em, tu thân, lo tài chánh…

Tôi đã không đáp ứng yêu cầu ấy của anh. Giới thiệu Đặng văn Bằng bên Hòa Lan cho anh. Anh buồn nhiều khi không khuyên bảo được tôi.

Giờ này, câu chuyên đã 16 năm!

Giờ này, anh đã bước sang năm thứ 56 không lối quay về!

Giờ này, đã hàng chục năm anh mai danh ẩn tích sau cú áp phe bạc tỷ giữa Pháp và Đài Loan liên quan đến những chiếc Mirag đắt đỏ!

«Quê hương ở mãi trong lòng ta! Khi còn một hơi thở, là còn xây dựng cho một Đại Việt tự do và đầy tự trọng »!

Tôi tin tưởng ở trí tuệ và sự trác tuyệt của một dòng họ đã gắn liền vận mệnh vơí tố quốc xuyên suốt hàng nghìn năm qua.
Cầu mong những hàng chữ này đến được bên anh. Như một bông hoa dại đơn sơ, của một đứa chiến binh chân chất, hướng về một dòng họ đã làm nên lịch sử nước Nam, hướng về một ngưoì anh nay đã gần đất xa trời mà quê hương còn biền biệt tư thế tự trọng và tự do.


Anh đã rất yếu, xin anh cố giữ mình.

Kính mến.

một ngươì lính võ bị không số quân
Phạm văn Thành
Paris Dec. 12, 2015

.

0 nhận xét:

Post a Comment