Tuesday, April 7, 2015

Chuyện tàu Việt Nam Thương Tín 2 - Phần 5 và Kết

"'Give Us A Ship': The Vietnamese Repatriate Movement on Guam, 1975" by Jana K. Lipman - Tạp Chí American Quarterly Volume 64, Issue 1 (số ra tháng 3 năm 2012)

(tiếp theo Phần 4)

Nguyên tác "'Give Us A Ship': The Vietnamese Repatriate Movement on Guam, 1975"

"‘Hãy để chúng tôi về’: Chuyện những người Việt hồi hương từ đảo Guam, năm 1975"
Lê Tùng Châu dịch

từ trang 19 - trang 27

"Guam: Hòn Đảo Dữ"

Cùng với những phản kháng leo thang của người hồi hương, thì tình trạng lãnh thổ của Guam bỗng như bị phô bày một cách khó chịu cho chính quyền Guam, thậm chí làm rối cho cả quân đội Mỹ. (73) Guam, với một lịch sử thuộc địa và một vị trí địa dư cách biệt, như đã định hình cho cả Mỹ quốc lẫn giới chức chính quyền Guam về tính bó buộc cũng như những triển vọng chính trị cho nơi này, và cũng vì nói chung hệ thống chính trị Hoa Kỳ đã không thừa nhận sự hiện hữu của Guam, phần nhiều lại cứ để cho tùy nghi. Trong hoàn cảnh tức thì lúc ấy, các quan chức Guam ngày càng trở nên nản lòng bởi quyền hạn hạn chế của mình. Họ không muốn gì hơn là được thoát khỏi vấn đề hồi hương một lần và cho tất cả, và Thống đốc Bordallo đã cảnh báo trước sẽ giải quyết vấn đề bằng chính thẩm quyền của mình:

“Cuộc sống của cư dân đảo Guam đang lâm nguy. Phải có ngay một giải pháp là rất cấp bách. . . . Những người hồi hương đã khuyến cáo tôi rằng họ sẽ bắt đầu một loạt các hành vi bạo lực liều mạng nếu họ không được về Việt Nam ngay lập tức. . . . Trong vòng 48 giờ nếu không nhận được chỉ thị của quý vị về vấn đề này, tôi sẽ tiến hành đơn phương một lựa chọn bắt buộc tối hậu. (74)

Có thể nói phản hồi của chính quyền Mỹ với thông điệp của vị Thống Đốc là cụt ngủn. Ngoại trưởng Henry Kissinger chỉ giục Bordallo hạn chế, đừng họp nhiều với người hồi hương, vì ông không có thẩm quyền đáp ứng thỉnh cầu của họ (75) Trong diễn biến liên quan, phát ngôn nhân Joseph Ada của Guam dường như bị người hồi hương xúc phạm cá nhân, và ông nhận định các cuộc biểu tình phản kháng là "lấy sự sỉ nhục đáp lại lòng hiếu khách mà họ được ưu đãi" Trong Nghị quyết số 133, Ada chính thức đề nghị tái di dời người hồi hương sang Wake Island, một vùng lãnh thổ nhỏ hơn, xa hơn Guam, một vùng đất chưa có tính pháp lý với nước Mỹ nói chung, và bị quên lãng trong quần thể các quần đảo nhỏ ở Thái Bình Dương của Mỹ. Ada cho rằng người hồi hương đã gây ra chướng ngại nguy hiểm cho cư dân địa phương đồng thời đe dọa cho uy tín quốc tế của Guam. Các Thượng nghị sĩ Guam nhất loạt bỏ phiếu chọn với số thuận áp đảo 12/1 ủng hộ đề xuất này. (76) Tuy nhiên, kết quả bỏ phiếu gần như đạt đồng thuận tuyệt đối việc cưỡng bức trục xuất người hồi hương trong thực tế đã cho thấy rõ sự thiếu quyền hạn của chính quyền Guam. Lực lượng đặc nhiệm liên bang “Interagency Task Force” về người tị nạn, vừa được lập tuy chưa chính thức đã phải hủy ngang vì không còn cần thiết nữa. (77)

Một thành viên của ban lãnh đạo người Việt hồi hương trình bày một mô hình của tàu Thương Tín I với Thiếu Tướng Kent J. Carroll. Photo by Cục Lưu trữ Quốc gia Hoa Kỳ

Trong bối cảnh rối bời đầy biến động ấy, một cấp chỉ huy quân đội Mỹ là Thiếu Tướng Hải Quân Kent J. Carroll, cũng phải lao đao khó xử với tình trạng chính trị của Guam và cân nhắc khả năng có nên điều quân đội liên bang đến để dập tắt tình trạng bất ổn thuần tính dân sự … hay không, theo Chiến dịch "Garden Plot" (78) Cái tên Garden Plot là một mật mã quân sự -được gợi nên từ những trước tác của nhà văn Geogre Orwell- dùng đặt tên cho một kế hoạch cho phép quân đội có toàn quyền giải quyết những xáo trộn dân sự. Một nghị định về quốc phòng đã nêu rõ Chiến dịch "Garden Plot" chỉ có thể được tiến hành với sự phê chuẩn chính thức của Tổng Thống. Bởi "Garden Plot" nhất thiết phải được Tổng Thống phê duyệt, Carroll còn chỉ rõ rằng "những luật dùng cho trường hợp bất ổn dân sự thông thường không thể dễ đem áp dụng cho Guam." Ông nói tiếp, "thủ tục tiến hành Garden Plot không thích hợp cho tình trạng khẩn cấp trong vùng lãnh thổ Hoa Kỳ". Trên thực tế, Hoa Kỳ đã không hề định một kế hoạch phiêu lưu nào cho tình trạng bất ổn dân sự trên đảo Guam, bởi vì Guam là vùng lãnh thổ chẳng hề được tính đến. Ví dụ, Guam chẳng nằm trong tầm hoạt động của FBI, cả CIA cũng không luôn, và do đó, thực tế là không có khả năng thu thập thông tin tình báo nào về Guam cả. (79)

Một nhiếp ảnh gia quân đội Mỹ ghi lại sự tàn phá của Building 519 trên Trại Asan vào tháng Tám năm 1975, đã bị phá hủy bởi người hồi hương Việt trong cơn quá khích chống đối việc bị cầm giữ ở Guam. Photo by Cục Lưu trữ Quốc gia Hoa Kỳ

Di sản đế quốc của Guam đã loại nó hoàn toàn khỏi tầm chi phối của pháp luật và các lệnh lạc quân sự Mỹ, và Thiếu Tướng Hải Quân Carroll cũng như các sĩ quan chỉ huy bộ binh đều muốn dễ bề ra tay vụ này. Ông liên tục thúc giục đồng nghiệp ở Washington DC vận động để ông được quyền điều quân đội vào các trại hồi hương nếu những hành vi quá khích còn bùng lên nữa. Cuối cùng, cấp trên của Carroll ở Washington đã không đồng ý và từ chối yêu cầu được can thiệp của ông mà chưa được sự chấp thuận của Tổng Thống. Tạm gác qua những xung đột cục bộ, giới chức ở Guam nhận ra nguy cơ còn bùng phát các phản ứng thái quá và e rằng các hiệu ứng dây chuyền không hay có thể lan tới từ truyền thông đến dư luận quốc tế nếu lính Mỹ lỡ khai hỏa vào người tị nạn Việt ở Guam. Trong khi các cấp vẫn duy trì những tính toán bình tĩnh thận trọng, thì tâm trạng nản lòng thất vọng của Carroll càng tỏ rõ tình trạng mơ hồ của Guam và các mối đe dọa thường trực đến sức mạnh quân đội, cho dù với một chiến dịch nhân đạo đi nữa.
Vào 30 tháng 9/ 1975, UNHCR công bố các cuộc đàm phán với PRG thất bại. Không chút hy vọng PRG hoặc DRV sẽ sẵn sàng chào đón hoặc tạo điều kiện tái định cư người hồi hương tại Việt Nam. Quân đội Mỹ đã sẵn sàng cho việc khởi động chiến dịch "Garden Plot" để ứng phó các cuộc bạo động, bạo loạn, và tình trạng bất ổn chung. Để ngăn chặn những bất ổn có khả năng leo thang, Tổng Thống Ford đã tiên phong chấp thuận việc sử dụng tàu Thương Tín I -một con tàu thương mại Việt Nam vốn ban đầu đã đưa người tị nạn tới Guam- để cấp cho người hồi hương trở về. (80)
Người Việt tại Trại Asan tán dương ngay giải pháp này. Những hình ảnh trên trang đầu của tờ Pacific Daily News cho thấy những nam thanh niên cởi trần, mặc quần đùi đổ xô nhau ra vào ban đêm, hân hoan vui mừng nhảy cẫng lên. (81)
Trên tất cả, người hồi hương đã cho thấy họ đã hoàn thành ý nguyện của mình; họ đã thắng thế khi áp lực được chính phủ Hoa Kỳ cung cấp cho họ một con tàu theo đúng nguyện vọng. Có lẽ vì quá chú trọng tới nguyện vọng của người hồi hương cũng như đoán định những nguy cơ dây chuyền có thể lan đến dư luận từ những bạo loạn liều mạng của người tị nạn Việt ở Guam, một trại cầm giữ không xác định được thời hạn trên Guam hay Wake Island, hoặc buộc phải tái chuyển đến lục địa Hoa Kỳ... cuối cùng chính phủ Mỹ đã thừa nhận rằng “Ship Option” là giải pháp tốt nhất. Trong ba tuần tiếp theo, các thủy thủ và thuyền trưởng người Việt làm việc nhiệt tình trên tàu, tiến hành chạy thử nghiệm trên biển, đóng gói thực phẩm, tích trữ nước cần thiết cho ba mươi ngày và cho 1.600 người.(82) Thất vọng bởi sự từ chối của PRG, UNHCR cũng thôi, không hậu thuẫn cho Ship Option. Đơn giản là vì họ không bảo đảm người hồi hương khi đến nơi sẽ được an toàn.
Để bảo vệ tốt nhất chuyến về của người hồi hương, Hoa Kỳ lệnh cho các quan chức của mình "đóng một vai phụ” cho nước Mỹ trong việc này và vẫn giữ thế kẻ ngoài cuộc. Họ muốn tránh đừng để cho sự điều khiển của người Mỹ lộ diện ra chút nào và cứ để tiến trình hiện rõ chất thuần Việt. Các quan chức Mỹ thừa nhận rằng đầy vẻ nghi ngờ trong cái nhìn của PRG với đoàn người hồi hương, PRG cũng coi họ như là những kẻ đã bị đế quốc Mỹ làm đồi trụy. Không có nghi lễ "chính thức, tiễn đưa" gì ráo và cũng chẳng phô trương bất cứ thứ gì từ Mỹ hoặc người đại diện đảo Guam. Bất kỳ sự kiện chung cục nào cũng phải "diễn đúng chương trình hồi hương" (83)
Những lo ngại của UNHCR và Chính phủ Mỹ đã chứng tỏ là có căn cứ, PRG cứ cố chấp rằng chuyến về của người hồi hương và chương trình Option Ship là vi phạm chủ quyền và quyền lực mới thu được của họ. Nhiều tháng sau khi Sài Gòn sụp đổ, PRG đang mong muốn được Hoa Kỳ công nhận ngoại giao để đạt được tính hợp pháp cũng như các quyền lợi khác nhưng Hoa Kỳ lại không công nhận chính phủ của họ cũng như từ chối các cuộc đàm phán trực tiếp, nên PRG giận dữ trút đòn thù vào tàu Thương Tín I và đoàn hồi hương. Với đôi tai dường như hoàn toàn điếc về chính trị, PRG tố cáo chuyến tàu hồi hương là một "kế hoạch nham hiểm"

“Đây là một tội ác mới chống lại nhân dân Việt Nam. . . . PRG kêu gọi những người yêu nước hiện nay buộc phải sống ở nước ngoài phải nhận rõ ý đồ xấu của Hoa Kỳ, đoàn kết với nhau để bảo vệ bản thân và chủ quyền quốc gia, chống lại tất cả những âm mưu xấu xa của chủ nghĩa đế quốc Mỹ. PRG chính thức yêu cầu chính phủ Mỹ chấm dứt giải quyết vấn đề "người tị nạn" theo cách riêng của mình” (84)
Chính quyền Bắc Việt thì mô tả sự kiện như là một "hành động mạo hiểm và vô trách nhiệm. . . . Chính phủ Mỹ đã phạm một sai lầm lớn bởi đơn phương và tùy tiện hành động trong vấn đề này" (85)

Trong những cuộc đối thoại với UNHCR trước đây, PRG và Bắc Việt đã nhiều lần sợ chính phủ Hoa Kỳ đã sử dụng phép hồi hương là một mưu đồ để tuồn gián điệp CIA vào lãnh thổ của họ (86)

Với vẻ huênh hoang và gạt bỏ ngoài tai những tuyên bố của chính người hồi hương, PRG còn trong tình trạng đa nghi hết thảy, họ không tin bất kỳ hành động đơn phương nào của Mỹ. Tóm lại, PRG cho rằng Hoa Kỳ đang cố thực hiện ngầm một âm mưu từ bên ngoài nhằm khả năng lật đổ, áp đặt một lượng cư dân vào trong biên giới nước họ và vi phạm cái quyền riêng mà chỉ chính họ mới xác định được những ai có thể và không thể nhập cảnh. Người hồi hương đã thành công trong chiến dịch của họ vừa mới đây, nhưng ngay tại thời điểm này, họ phải đối mặt một chính phủ Việt Nam thù địch và một bối cảnh chính trị thô cứng.

Trong khi người hồi hương chuẩn bị cho chuyến về thì các quan chức Mỹ đã công bố các báo cáo lập trường hung hăng của PRG và Bắc Việt đến các trại tị nạn. Các vị ấy muốn mọi người nhận ra sự thù địch không hề dấu diếm của PRG về thiện chí hồi hương. (87)
Người hồi hương cũng công nhận khả năng rủi ro đấy, nhưng hầu hết đều kỳ vọng vào một triển vọng tốt đẹp. Một người đàn ông giải thích: "Khi quay lại, chúng tôi phải tuân theo lệnh của chính phủ. . . . Chúng tôi nghĩ rằng khi quay lại, chúng tôi phải dự các chương trình cải tạo vì tất cả chúng tôi đều là cựu viên chức của chế độ cũ" (88)
Trước khi lên tàu, Hoa Kỳ còn đề ra một cơ hội cuối cùng cho người hồi hương nào muốn đổi ý và chịu một hành trình đến Hoa Kỳ chứ không phải là Việt Nam. (89)
Các quan chức Mỹ còn lo ngại những bó buộc của Trại Asan đã gây ra một tình trạng "nhất quán không bình thường" giữa những người hồi hương với nhau như thế, và do đó họ muốn cung cấp một phương thức tùy chọn "giải cứu" vào giờ chót cho người hồi hương nào "muốn bí mật ở lại". (90)
Khoảng hai mươi bốn giờ trước khi khởi hành, các gia đình, cá nhân đều phải qua một sát hạch cuối cùng, kỹ lưỡng, tinh vi và dấu mặt, một "phiên tư vấn" hoàn toàn bí mật với những căn phòng kín cửa. (91)
Có hai mươi tám người đã đổi ý và quyết định không lên tàu Thương Tín I, thay vào đó họ đã đi đến Hoa Kỳ. (92)
Có điều hấp dẫn là, Lê Minh Tân, một kẻ dẫn đầu đoàn hồi hương từ trại Fort Chaffee, lại là một trong những kẻ đã quyết định quay lại Hoa Kỳ, dù ông đã dẫn dắt bao cuộc tuyệt thực và biểu tình liên tiếp. (93)
Trần Đình Trụ nhận xét rằng quyết định của Tân chứng tỏ rằng ông ta đã từng là một điệp viên CIA thứ thiệt. (94)
Trong khi không thể sưu lục tài liệu lưu trữ để tìm hiểu những động cơ thực sự của Tân, có điều không thể không nói là, ông ta đã bị buộc tội cả một cộng sản nằm vùng lẫn một nhân viên CIA! Những cáo buộc đầy mâu thuẫn như thế đã chứng minh thế nào là đa nghi hoang tưởng cũng như thế nào là những đòi hỏi phân định rành rẽ rằng có những người Việt các cấp từ phe PRG nằm vùng trong đoàn người hồi hương hay không?!
Tổng cộng có 1.546 người Việt lên tàu Thương Tín I, trong đó có 250 phụ nữ và trẻ em. Trong một đoạn kết thật quá đỗi khôi hài, những thủ lĩnh đoàn người hồi hương đã quên bẵng bức họa chân dung Hồ Chí Minh lại trong trại, và khi họ muốn trưng bày nó trên tàu, lính thủy Mỹ lại mau mắn quay về lấy bức họa đem đến, tạo ra một hình ảnh trái ngược nhau và khá khó coi là thủy quân lục chiến Mỹ cùng sánh đôi với Hồ Chí Minh. Một nhân viên quần chúng sự vụ nhận ra ngay một nguy cơ bị chụp ảnh có thể tiềm ẩn nhiều khả năng khó xử về sau bèn ra lệnh lính thủy cứ để thả bức tranh và bảo những hồi hương tự đưa nó lên tàu. (95)
Ngày 17 Tháng Mười năm 1975, con tàu rời bến cảng mà không hề được đặt tên cho chuyến hải hành cũng chẳng được một bảo đảm nào từ PRG rằng nó có được phép cập bến trên đất Việt hay không. Khi tàu đến miền nam Việt Nam trong tháng mười một, PRG đã tống giam hết thảy đoàn người vào trung tâm huấn luyện Đồng Đế gần Nha Trang. Không hề được nêu lên trong giới báo chí quốc tế, đoàn người hồi hương như thể bỗng dưng bị nuốt chửng vào hệ thống các trại tù cải tạo xuyên suốt miền Nam Việt Nam. (96)
Trần Đình Trụ nhớ lại được đưa lên bờ và nghe diễn thuyết về chuyện ông đã bị "đế quốc Mỹ tẩy não" ra sao. Các quan chức Việt [cộng] sau đó đã hỏi cung ông và buộc tội Trụ với tư cách thuyền trưởng, đã dẫn đầu tiếp tay cho một âm mưu của Mỹ đối với Việt Nam. (97)
Thật là mỉa mai hay bi kịch thay! Giờ đây, thực tế người hồi hương đã trở thành tù nhân của chiến tranh, (98) cuộc biểu tình trước đó và khẩu hiệu của họ nhằm vào người Mỹ rằng họ không phải là tù binh chiến tranh đã biến thành sự thực đáng buồn và rằng PRG [1975], và sau đó là chính phủ thống nhất của Việt Nam [1976], đã xếp loại đoàn người trở về như là kẻ cựu thù và là những công dân không thể tin được.
Trong cuốn hồi ký của Trụ, ông kể lại đã ở hơn mười hai năm trong một trại lao động cưỡng bức tại Việt Nam, nơi đã tàn phá cả tâm hồn lẫn thể xác của tù nhân.
Căn cứ vào nguồn tài liệu mà tôi có được, thật không thể biết được thực tế những người hồi hương khác đã phải bị giam trong các "trại cải tạo" bao lâu.
Cùng việc Trụ có lẽ đã bị trừng phạt nặng nề vì địa vị cao của ông trong Hải quân Việt Nam Cộng Hòa, lại là thuyền trưởng Thương Tín I…nói chung các trại cải tạo khác đều cho tù nhân khẩu phần ăn chết đói và đối xử tàn bạo tùy tiện.
Sau sáu tháng tù đầu tiên, Trụ, được chính quyền cách mạng cho phép ông viết thư về gia đình, và thế là vợ ông bắt đầu gửi cung cấp định kỳ để giúp ông chống chọi trong nhà tù. Sáu năm sau, chính quyền cho phép vợ đến thăm ông tại một trại tù ở miền bắc. Trụ thấy những khó khăn và chi phí của chuyến đi thăm tù quá khủng khiếp, bởi một khi vợ đã tận dụng các nguồn lực để gửi vào tù cho ông tức có nghĩa con cái ông ở nhà sẽ bị thiếu đói. Ông đã viết kể lại nhiều chuyện về cưỡng bức lao động, chế độ ăn chết đói, bị giám sát thường trực, và "cải tạo" của cộng sản là thế nào.
“Năm tháng trôi qua và chúng tôi vẫn cứ sống trong một thế giới rất kì lạ, giống như côn trùng, như động vật hoang dã, trong điều kiện khắc nghiệt, áo quần tả tơi, làm việc lao khổ dưới họng súng AK-47. Đôi khi tôi đã gặp cơn ác mộng khi ngủ và khi tỉnh dậy toát mồ hôi lạnh, nhưng nhìn lại xung quanh, tôi thấy thực tế ấy thậm chí còn đáng sợ hơn, và ý thức rõ rằng chúng tôi đang sống ở một nơi khủng khiếp nhất trên hành tinh. (99)
Ông kết luận, "Tôi thấy giận sôi lên trong lòng. Nếu chọn đi Mỹ, tôi đã có thể để giúp gia đình mình. Bây giờ thì đã quá muộn. Tôi chỉ còn biết oán trách số phận". (100) Rồi ông cũng được thả vào ngày 13 tháng 2 năm 1988, thế là sau cùng ông cũng được đoàn tụ với vợ. Ba năm sau, ông được đưa vào chương trình H. O. (Humanitarian Operation) và cùng vợ con rời Việt Nam sang Hoa Kỳ.



Phần kết

Từ trong căn để, chuyện sử những người hồi hương Việt nhấn mạnh tính năng động của những kế hoạch bất ngờ cùng với sự kiên trì của đế quốc Mỹ. Mặt khác, nó là một phản bác rõ ràng và đầy thách đố những bản tường trình phổ biến được nhiều người tưởng là đúng về di dân người Việt. Không những không thụ động, vô vọng, hay từ chối không nhận viện trợ và thiện chí giúp đỡ, người hồi hương còn cho thấy nơi họ một mảng ấn tượng của kỹ năng chính trị và khả năng vạch chiến lược một cách có tổ chức.
Các bức ảnh của những người tị nạn Việt, đáng kể là ngay trong căn cứ quân sự Mỹ, tận dụng hình ảnh Hồ Chí Minh và cạo đầu tranh đấu …vẫn làm người ta kinh ngạc. Những hình ảnh này xuất hiện rộng rãi trên các tờ báo ở Guam, nhưng các báo trong lục địa Hoa Kỳ thì không sao lại, và ngành ảnh của quân đội vẫn còn lưu trữ chỉ trong các Báo cáo “After Action” còn nơi danh mục của cục lưu trữ.
Hơn nữa, cách tổ chức chính trị của họ và sự công nhận đầy thuyết phục từ nhiều người Mỹ từng nghe họ diễn thuyết…đã nói lên kiến thức hiểu biết và sự tháo vát của người hồi hương. Câu chuyện của họ nổi rõ động thái biết cân bằng giữa hai thái cực cộng sản và chống cộng, nhưng cuối cùng tiếc thay họ đã tránh né không xong tình trạng 2 mặt đối lập ấy khi đối mặt với một Việt Nam vừa mới đổi chủ đầy bất trắc và hận thù.
Đồng thời, những câu chuyện của người hồi hương cũng thách thức các học giả nhận ra tính bao hàm của những vùng đất ở "bên rìa" ngoại vi của đế quốc Mỹ. Câu chuyện hồi hương Việt Nam cũng hút sự chú ý đến đảo Guam và việc dùng nó như một trại tị nạn hay một nơi cầm giữ. Lịch sử của nó cũng phát huy vai trò tương liên giữa đế quốc với căn cứ quân sự Mỹ, với các việc trục xuất, và giam giữ. Những dòng lưu động mới vừa qua của đế quốc và đoàn di dân lại đi đến kết cục trong những diễn biến không thể đoán trước, nhưng cuối cùng đoàn người cũng đã thông tri được cho nhau và đã gây được tiếng vang thời bấy giờ.
Người hồi hương Việt nào phải chỉ là đoàn dân cư duy nhất đi tìm chính mình "ở giữa lòng" những di sản của đế quốc và chiến tranh. Nhà nhân chủng học David Vine đã viết một cuốn sách mới hấp dẫn về cách mà chính phủ Anh trục xuất khối dân cư bản địa Chagossians ra khỏi Diego Garcia để lấy đất làm đường cho một căn cứ hải quân Mỹ ở Ấn Độ Dương. Dân Chagossian bị cấm sinh sống, thăm viếng, hoặc làm việc trên đảo, trong khi căn cứ ấy nay là vùng trọng điểm của chiến lược quân sự của Mỹ ở Afghanistan và vùng Trung Đông. (101)
Có lẽ dễ thấy hơn cả là việc chính phủ Hoa Kỳ cải đổi các căn cứ hải quân ở vịnh Guantanamo (GTMO) –vùng đất đặc biệt dự phần với nguồn cội lịch sử của Guam từ 1898- thành một trung tâm được cho là nơi giam giữ những "chiến binh thù địch" vào năm 2002. Tuy nhiên, ngay cả trước sự kiện 11 tháng 9 [2001], GTMO đã là một trại tị nạn gây nhiều tranh cãi, tại nơi này Hoa Kỳ đã giam giữ những người Cuba và Haiti. Sau khi trận động đất Haiti năm 2010, chính phủ Mỹ lại sửa soạn cho GTMO thành một trại tị nạn vốn đã được biết tiếng nhiều từ thập niên 90’s. (102) Sau hết, Guam cũng đã từng được dùng như một trạm trung chuyển người tị nạn thời Chiến tranh Lạnh. Vào cuối Chiến tranh vùng Vịnh năm 1991, chính phủ Mỹ với việc tìm chốn dung thân cho người Kurd (ở Iraq) tị nạn [tạm trên đảo Guam], qua đó tung ra một thông điệp cho "quá trình hình thành" căn cứ không quân Andersen biệt lập ở Guam, rồi mới tái định cư họ ở Hoa Kỳ. (103) Lộ trình qua lại này giữa Iraq, Guam, và Hoa Kỳ hiện vẫn còn hoạt động với các phiên dịch cảm tử người Iraq và các đồng minh của Mỹ. (104)

Là kết quả hẳn hoi chứ chẳng phải mang chút gì dị thường hoặc nhằm minh hoạ cho một câu chuyện khả tín, lịch sử của những người Việt hồi hương trên Guam báo hiệu nhiều hướng hội tụ giữa các hoạt động di cư và quân sự trong thế kỷ XX và XXI. Quá trình lịch sử xưa chưa được biết đến của Mỹ nay như dội ngược về trong hiện tại, với bóng dáng những đoàn di dân trong đó, hoặc từ xa chuyển đến, hay bị cầm giữ… cho thấy sự sa lầy của đế quốc và các chính sách ứng biến cuốn theo con người vào trong. Với tính khác biệt rõ ràng từng trường hợp, người ta có thể hình dung ra nào là người Chagossians, những người bị cầm giữ ở GTMO, người Kurd ở Iraq, nạn nhân động đất Haiti, và người hồi hương Việt… để khả dĩ phác họa một nhân dáng cường quốc quân sự Hoa Kỳ.

Câu chuyện phức tạp, đầy sống động và nhuốm màu bi kịch của người hồi hương Việt đã nhấn mạnh một điều cấp thiết rằng chúng ta không nên dễ dãi chấp nhận những tường trình cứng nhắc về “cứu hộ” và về “cách mạng”. Ở trên Guam, xa biệt gia đình, cũng chẳng biết rồi sẽ về đâu, lúc đó người hồi hương đành phải lấy một lựa chọn, hoặc hay hơn hoặc tồi hơn… bằng vào vốn hiểu biết chủ quan của mình. Những lựa chọn ấy trở nên đầy nguy hiểm, gồm cả hy vọng, lẫn thất vọng, may mắn và rủi ro, do đó có thể nói, nó chẳng tương đồng tí nào với những tường trình của người Mỹ về cứu nạn cũng như những tường thuật của người Việt [cộng] về cái gọi là "chống chủ nghĩa đế quốc", câu chuyện của người hồi hương bộc lộ một mớ bòng bong rối rắm của những tình huống bất ngờ và những chính sách tạm bợ bất nhất đã cuốn những kẻ nạn nhân của nó vào trong.



Bản quyền (copyright) thuộc về Thư Viện Phạm Văn Thành (TV PVT) - ©TV PVT 2015


Bài Liên Quan:

- Chuyện tàu Việt Nam Thương Tín 2 - Phần 1

- Chuyện tàu Việt Nam Thương Tín - Thư Viện Phạm Văn Thành tổng hợp


Tài liệu tham khảo liệt kê bởi tác giả


73. “Intermediary Needed . . . ,” PDN, August 21, 1975. For an excellent work on the colonial history of “Devil’s Island” and its reincarnation into a French satellite station, see Peter Redfield, Space in the Tropics: From Convicts to Rockets in French Guiana (Berkeley: University of California Press, 2000).
74. US Secretary of State to US Mission Geneva, July 19, 1975, RG 59, 1975STATE170890.
75. Secretary of State to RUMTBK/AmEmbassy Bangkok, Re: Repatriates, July 23, 1975, RG 59, 1975STATE170895.
76. McLaughlin, “Ada Resolution Passes Senators,” PDN, September 6, 1975; Resolution No. 133, Relative to Respectfully requesting the President of the United States to Transfer the Vietnamese Repatriates from Guam to Wake Island, September 5, 1975, Thirteenth Guam Legislature, 1975–1976.
77. “Task Force Replies ‘No’ to Wake, Ship Ideas,” PDN, September 8, 1975.
78. Civil Disturbance Plan—Garden Plot, December 13, 1975, RG 319, box 2, folder Situation Sum-maries December 13–30, 1975; Briefing Outline for US of A, October 15, 1975, RG 319, box 16, folder Message Traffic for Repatriate Situation on Guam.
79. Civil Disturbance Plan—Garden Plot.
80. Julia Taft to Secretary Kissinger, Repatriates, September 28, 1975, RG 59, 1975STATE231099.
81. “Repatriates Will Get a Ship to Sail Home,” PDN, October 1, 1975.
82. David L. Teibel, “Viet Vessel Resounds with Work,” PDN, October 10, 1975.
83. Secretary of State to JCS, Repatriate Ship, October 17, 1975; Secretary of State to RUHNSAA/ CINCPACREP, Re: Plan for Public Affairs Handling of Vietnamese Repatriate on Guam, October 12, 1975. All documents in RG 319, box 16, folder Message Traffic for Repatriate Situation on Guam.
84. George R. Blake, “‘Sinister Scheme’ How PRG Views Ship Plan,” PDN, October 5, 1975; “Ship, Repatriates Can Enter Vietnam, Agency Reports,” PDN, October 27, 1975.
85. “Repatriation ‘Irresponsible,’ North Vietnam,” PDN, October 18, 1975.
86. Secretary of State to AmEmbassy Helsinki, RE: Action Memorandum: repatriation of Vietnamese Refugees, September 4, 1975, RG 59, 1975STATE208902.
87. Secretary of State to US Mission Geneva, Re: Vietnamese repatriates, October 6, 1975, RG 59, 1975STATE237422; Tran Dinh Tru, Vietnam Thuong Tin, 210.
88. Ed Kelleher, “Ship’s Port Undetermined,” PDN, October 15, 1975.
89. Secretary of State to CINCPAC, Re: Meeting with Repatriate Leadership Committee, October 9, 1975, RG 59, 1975STATE241102; Secretary of State to CG Fort Chaffee, et al., re: Guidance on Counseling Repatriates, October 2, 1975, RG 59, 1975STATE235686; Julia Taft to Admiral Carroll, Re: Guidance on Out Processing and Departure of Repatriate Ship, October 13, 1975, RG 319, box 16, folder Message Traffic for Repatriate Situation on Guam.
90. Secretary of State to CINCPACREP GUAM, RE: Final Out-Processing Procedures for Camp Asan Repatriates, Preliminary Scenario, October 10, 1975, RG 59, 1975STATE242815.
91. Ibid.
92. Secretary of State to CINCPCREP Guam, Re: Repatriates, October 21, 1975, RG 59, 1975STATE249847.
93. COMNAVMARIANAS Guam to RHMBR/CINCPACFLT Re: Return of VN Repatriates by Ship—Si-trep Seven, October 9, 1975, RG 319, box 16, folder Message Traffic for Repatriate Situation on Guam.
94. Tran Dinh Tru, Vietnam Thuong Tin, 292.
95. Jim Eggensperger, “Repatriate Ship Leaves to an Uncertain Future,” PDN, October 17, 1975.
96. December 13, 1975 Subj: Vietnamese repatriates in Nha Trang, RG 319, box 2, folder Situation Summaries December 13 – 30, 1975. Thompson, Refugee Workers in the Indochina Exodus, 66–73. See also Freeman, Hearts of Sorrow; Toai and Chanoff, Vietnamese Gulag; Vo, Bamboo Gulag; Pham,
Eaves of Heaven.
97. Tran Dinh Tru, Vietnam Thuong Tin, 327–31.
98. I’d like to thank the participants in the 2010 NYU Symposium on the Politics and Poetics of Refugees for sharpening this insight.
99. Tran Dinh Tru, Vietnam Thuong Tin, 396.
100. Ibid., 402.
101. David Vine, Island of Shame: The Secret History of the U.S. Military Base on Diego Garcia (Princeton, N.J.: Princeton University Press, 2009).
102. Kirk Johnson, “Urban Evacuees Find Themselves among Rural Mountains,” New York Times, September 7, 2005; Isabelle Wilkerson, “Scattered in a Storm’s Wake,” New York Times, October 9, 2005; “Haiti Earthquake: US Army Prepares Guantánamo Bay,” Daily Mail, January 21, 2010. See also Jana K. Lipman, Guantánamo: A Working-Class History between Empire and Revolution (Berkeley: University of California Press, 2009).
103. Eric Talmadge, “Kurds First Stop to U.S.: Guam,” Seattle Times, April 7, 1997, http://community. seattletimes.nwsource.com/archive/?date=19970407&slug=2532708 (accessed May 28, 2009).
104. In response to the current U.S. war in Iraq, the List Project has proposed a “Guam option,” whereby Iraqi allies who fear for their lives because of their association with Americans would be transferred to U.S. military bases in Guam as an interim location before being admitted into the United States. List Project, “What Is the Guam Option?” http://www.thelistproject.org/guam/ (accessed August 20, 2010) and http://thelistproject.org/withdrawal/ (accessed June 8, 2011).





Văn bản nguyên văn:

“Give us a Ship”: The Vietnamese Repatriate Movement on Guam, 1975 - By Jana K. Lipman

“Guam: The Devil’s Island”

As repatriates’ protests escalated, Guam’s territorial status grated on the Guamanian government and even confounded the U.S. military.73 Guam’s isolated geography and colonial history shaped U.S. and Guamanian officials’ political constraints and possibilities, and because the U.S. political system did not generally recognize Guam’s existence, much was left to improvisation. In the short run, Guamanian officials became increasingly frustrated by their own limited authority. They wanted nothing more than to be rid of the repatriate problem once and for all, and Governor Bordallo threatened to take the matter into his own hands:

The lives of the people of Guam are in jeopardy. Immediate action is imperative. . . . the repatriates advised me that they will initiate a series of violent acts at the risk of their lives if they are not moved to Vietnam immediately. . . . If I do not receive word from you con-cerning this matter within 48 hours, I shall proceed unilaterally with the latter alternative.74

The U.S. response to the governor was curt, to say the least. Secretary of State Henry Kissinger urged Bordallo to limit his meetings with the repatriates, since he had no power to grant their demands.75 In conjunction with this dispute, Guam’s speaker of the house Joseph Ada seemed personally insulted by the repatriates, and he characterized the protests as “an affront to the hospitality which has been freely offered them.” In Resolution No. 133, Ada formally proposed the repatriates be removed to Wake Island, an even smaller and more remote unincorporated territory in America’s generally forgotten Pacific archipelago. Ada argued that the repatriates posed a safety hazard to local civilians and a threat to Guam’s international reputation. The Guamanian Senate concurred and voted twenty to one in overwhelming favor of this proposal.76 However, this near unanimous vote to forcibly deport the repatriates in fact underscored the Guamanian government’s lack of sovereignty. The Interagency Task Force on Refugees, an unelected federal task force, shot down the “Wake option” as untenable.77
In this volatile mix, the U.S. military commander, Rear Admiral Kent J. Carroll, also wrestled with Guam’s political status and weighed the possibility of committing federal troops to quell civil unrest under “Operation Garden Plot.”78 Garden Plot was the military’s somewhat Orwellian code name for the plan which authorized military control over a civil disturbance. The military protocol clearly stated that Garden Plot could not be launched without explicit presidential approval. Hamstrung by the need for presidential review, Carroll argued the “normal civil disturbance rules cannot be easily applied to Guam.” He continued, “Garden Plot procedures are not appropriate for emergency situations in U.S. territories.” In essence, the United States did not have a game plan for a civil disturbance on Guam, because it had never considered it. For example, the FBI did not include Guam in its purview, nor did the CIA, and thus there was essentially no ability to gather intelligence on Guam.79 Guam’s imperial history left it quite literally outside the purview of the law and U.S. military directives, and Admiral Carroll, the commanding officer on the ground, wanted to be able to take action. He repeatedly urged his colleagues in Washington, D.C., to grant him the authority to order troops into the repatriate camps if hostilities flared again. In the end, Carroll’s superiors in Washington did not agree and refused his requests to act without presidential approval. Removed from the day-to-day conflict, they recognized the risk of overreaction and feared the possible media and international fallout if U.S. troops were firing on Vietnamese refugees on Guam. While cooler heads prevailed, Carroll’s frustration and desperation underscored Guam’s nebulous status and the constant threat of military power even in a humanitarian operation.
By September 30 the UNHCR announced that negotiations had broken down with the PRG. No hope remained that the PRG or DRV would willingly welcome or facilitate repatriates’ resettlement in Vietnam. The U.S. military prepared to initiate Operation Garden Plot in anticipation of rioting, violence, and general unrest.
To prevent the expected escalation, President Ford stepped forward and approved the use of the ship Thuong Tin I, a Vietnamese commercial ship that had initially carried refugees to Guam, for the repatriates.80 The Vietnamese at Camp Asan responded with celebration. The photos on the front page of the Pacific Daily News showed jubilant, shirtless young men in shorts rushing out into the night, jumping in the air.81 At the most basic level, the repatriates succeeded in their mission; they had adeptly pressured the U.S. government to give them a ship. Presumably weighing their options and evaluating the potential public relations disaster of all-out rioting by Vietnamese refugees on Guam, indefinite detention camps on Guam or Wake Island, or forced removal to the continental United States, the U.S. government had finally conceded that the Ship Option was its best course of action. Over the next three weeks, Vietnamese sailors and captains worked on the ship with enthusiasm, conducted sea trials, and packed needed food and water stores for thirty days for sixteen hundred people.82 The UNHCR, frustrated by the PRG’s intransigence, refused to throw its support behind the Ship Option. It simply could not guarantee the well-being of the repatriates on arrival.

To best protect the repatriates on return, the United States ordered its of-ficials to “play down the U.S. role” and remain on the sidelines. It wanted to avoid any appearance of U.S. control and allow the operation to appear fully Vietnamese. U.S. officials recognized that the PRG viewed the repatriates with great suspicion, seeing them as tainted by the U.S. imperialists. There was to be no “formal, send-off ceremony” and no fanfare from U.S. or Guamanian representatives. Any final event was to be “strictly a repatriate show.”83

The U.S. government’s and UNHCR’s fears proved well-founded, and the PRG framed the repatriates’ return and the Ship Option as a violation of its nascent sovereignty and power. In the months after Saigon’s collapse, the PRG desired U.S. diplomatic recognition and its attending legitimacy and benefits. Angered that the United States refused to recognize its government or negotiate directly, the PRG lashed out at the Thuong Tin I and the repatriates. With seemingly tone-deaf political ears, the PRG denounced the repatriate ship as a “sinister scheme.”

This is a new crime against the Vietnamese people. . . . The PRG calls on the patriots now forced to live abroad to be aware of the bad intention of the United States, and to unite with one another to protect themselves and the nation’s sovereignty against all wicked actions of U.S. imperialism. The PRG formally demands that the U.S. government stop settling the question of “refugees” in its own way.84

The North Vietnamese government also characterized the event as an “adventurous and irresponsible action. . . . The U.S. government has made a big mistake by acting unilaterally and arbitrarily in the matter” 85
In conversations with the UNHCR, the PRG, and DRV repeatedly feared that the U.S. government was using the repatriates as a ploy to return CIA agents to its territory 86
While seemingly paranoid and unsympathetic to the repatriates’ own claims, the PRG was in a fragile state and skeptical of any unilateral U.S. action. In short, the PRG argued that the United States was forcing a marginal, and potentially subversive, population on its borders and violating its own right to determine who could and could not enter the country. Repatriates had been successful in their campaign, yet at this juncture, they confronted a hostile Vietnamese government and a tenuous political ground.
While the repatriates prepared for return, the U.S. officials publicized the PRG and DRV’s aggressive statements to the camps. They wanted repatriates to recognize the PRG’s public animosity against their cause 87
The repatriates recognized the risks, but most hoped for the best. As one man explained, “When we go back we have to obey the orders of our government. . . . We think that when we go back we must attend the reeducation program because we were all the employees of the former regime.”88
Before boarding the ship, the United States provided one last chance for the repatriates to change their minds and travel to the United States rather than Vietnam 89 U.S. officials feared that the constraints of Camp Asan had forced an “uncommon solidarity” among the repatriates, and they wanted to provide one final “bail-out” option for repatriates who “secretly may want to remain” 90
Approximately twenty-four hours before departure, individual families encountered one final, elaborately stage-managed, “counseling session” complete with secret rooms and doors 91 Twenty-eight repatriates changed their minds and opted not to board the Thuong Tin I, and instead went to the United States 92
Interestingly, Le Minh Tan, the repatriate leader from Fort Chaffee, was among the repatriates who decided to return to the United States, even after he had led successive hunger strikes and protests 93 Tran Dinh Tru commented that Tan’s decision proved that he had been a CIA spy all along 94
While it is impossible from the archival documents to learn Tan’s actual motivations, it is worth noting he was charged with being both a communist infiltrator and a CIA agent. These contradictory charges demonstrated the paranoia and binaries that had infiltrated Vietnamese citizens at all levels from the PRG government to the repatriates themselves.

In total, 1,546 Vietnamese boarded the boat, including 250 women and children. In an almost comical conclusion, the repatriate leaders had forgotten the portrait of Ho Chi Minh in the camp, and they wanted to display it on the ship. U.S. marines promptly went to retrieve the picture and carried it to the ship, creating a contradictory and rather unseemly picture of U.S. marines side by side with Ho Chi Minh. A public affairs officer cognizant of the potentially embarrassing photo-op ordered them to drop the painting and asked the repatriates to bring it on board themselves 95
On October 17, 1975, the ship left the dock without a named port or a guarantee from the PRG that it would be allowed to land on Vietnamese soil. When the ship arrived in southern Vietnam in November, the PRG imprisoned the repatriates in a Vietnamese military camp in Dong De near Nha Trang. Never making international news, the repatriates could easily be “disappeared” into the network of reeducation camps throughout southern Vietnam 96
Tran Dinh Tru remembered being taken ashore and listening to a speech about how he had been “brainwashed by the American imperialists.” Vietnamese officials then interrogated him and charged him, as the captain, with leading an American plot against Vietnam 97
Ironically, if tragically, the repatriates in fact became prisoners of war 98 Their earlier protests and slogans aimed at the Americans that they were not POWs transformed into the sad reality that the PRG, and then the reunified government of Vietnam, classified them as former enemies and suspect citizens. In Tru’s memoir, he recounted more than twelve years in a forced labor camp in Vietnam, which broke both his body and his spirit. Based on my sources, it is impossible to know for how long other repatriates were interned in Vietnamese “reeducation camps” While Tru may have been punished more harshly because of his high position in the RVN Navy and as the Thuong Tin I captain, the reeducation camps were generally characterized by their starvation diets and arbitrary brutality. After the first six months of Tru’s imprisonment, the revolutionary government allowed him to write to his family, and his wife began sending periodic supplies to support him in prison. Six years later, the government permitted his wife to visit him at a reeducation camp in the north. Tru felt horribly about the hardship and expense of her trip, because the resources she was sending him meant his children had less to eat. He wrote extensively about forced labor, starvation diets, constant surveillance, and communist “reeducation.”
The years went by and we were still living in a very strange world, like insects, like wild animals, in extreme conditions, our clothes in tatters, toiling under the barrels of the AK-47s. Sometimes I had a nightmare and woke up in a cold sweat, but when looking around I saw that reality was even more terrifying, and that we were living in the most horrendous place on the planet.99
He concluded, “Rage boiled up inside me. If I had chosen to go to America, I would have been able to support my family. And now it was too late. I could only blame it on my fate.”100 He, at least, was released on February 13, 1988, when he was finally reunited with his wife. Three years later he applied to the Humanitarian Operation (HO) program and left Vietnam for the United States, this time with his wife and children.


Conclusion

At its core, the history of the Vietnamese repatriates emphasizes the dynamics of contingency alongside the tenacity of American empire. On one level, it is a provocative and clear refutation of the dominant public narrative of Vietnamese migration. Far from passive, hopeless, or vacant recipients of aid and goodwill, the repatriates displayed an impressive array of political skills and organizing strategies. The photographs of Vietnamese refugees, on U.S. military bases no less, wielding images of Ho Chi Minh and shaving their heads remain stunning. These images appeared widely in Guam’s newspapers, but those in the continental United States did not reproduce them, and the military’s photography remained only in After Action Reports and catalogued in the archives. Moreover, their political organization and cogent recognition of their American audience spoke to the repatriates’ savvy and resourceful knowledge. Their stories highlighted the balancing act these men and women performed between the perform poles of communist and anticommunist discourse, yet ultimately they failed to avoid these dichotomies in the face of an insecure and vengeful revolutionary Vietnam.
At the same time, the repatriates’ stories challenge scholars to recognize the implications of “marginal” places on the periphery of America’s empire. Vietnamese repatriates’ stories draw attention to Guam and its use as a refugee camp and detention site. Its history brings into relief the interconnections between empire, U.S. military bases, deportation, and detention. These cross-currents of empire and migration have resulted in unpredictable circuits, but ones that ultimately inform one another and resonate in the contemporary moment.
Vietnamese repatriates were far from the only population to find themselves “in between” the legacies of empire and war. The anthropologist David Vine has written a gripping new book on how the British government deported the indigenous population of Chagossians from Diego Garcia to make way for a U.S. naval base in the Indian Ocean. The Chagossian population is barred from living, visiting, or working on the island, while the base is now central to U.S. military strategy in Afghanistan and the Middle East 101
Perhaps most visibly, the U.S. government transformed the naval base in Guantánamo Bay (GTMO), which tellingly shares Guam’s 1898 history, into a detention center for alleged “enemy combatants” in 2002. However, even before September 11, GTMO was a controversial refugee camp where the United States detained Cubans and Haitians. After the 2010 Haitian earthquake, the U.S. government again prepared GTMO as a refugee camp in a clear echo from the 1990s 102
Finally, Guam has also been used as a way station for refugees in the post–Cold War era. At the end of the 1991 Gulf War, the U.S. government couriered Iraqi Kurds seeking asylum for “processing” to the isolated Andersen Air Force Base in Guam, before resettling them in the United States 103
This route between Iraq, Guam, and the United States remains an active possibility for at-risk Iraqi translators and U.S. allies in the present 104
As a result, rather than seeming anomalous or illustrating a singular potent story, the history of the Vietnamese repatriates on Guam foreshadows the multiple convergences between military and migrant operations in the twentieth and twenty-first centuries. The unacknowledged histories of U.S. empire reverberate in the present, and these populations in between, in transit, or in detention reveal the stickiness of empire and the contingent politics of the people in between. While disparate and clearly distinct, one can imagine Chagossians, GTMO detainees, Iraqi Kurds, Haitian earthquake victims, and Vietnamese repatriates mapping the circuits and contours of American military empire.
The repatriates’ complicated, dynamic, and at times tragic stories underscore the need to challenge monolithic narratives of rescue and of revolution. On Guam, away from their families, and from their perspective neither here nor there, the repatriates made choices, for better or for worse, with the knowledge available at the time. Their choices became fraught with anger, hope, despair, good luck and bad—that is to say, that rather than adhere to American narratives of rescue or Vietnamese narratives of anti-imperialism, the repatriates’ stories reveal the messiness of contingency and the precarious politics for those in between.

[From page 19 to page 27]

-

0 nhận xét:

Post a Comment