Friday, April 3, 2015

Chuyện tàu Việt Nam Thương Tín 2 - Phần 4

"'Give Us A Ship': The Vietnamese Repatriate Movement on Guam, 1975" by Jana K. Lipman - Tạp Chí American Quarterly Volume 64, Issue 1 (số ra tháng 3 năm 2012)

(tiếp theo Phần 3)

Nguyên tác "'Give Us A Ship': The Vietnamese Repatriate Movement on Guam, 1975"

"‘Hãy để chúng tôi về’: Chuyện những người Việt hồi hương từ đảo Guam, năm 1975"
Lê Tùng Châu dịch

từ trang 12 - trang 19

"Chúng tôi không phải là tù binh chiến tranh"

Cố thủ trên Guam trong tình trạng lấp lửng về cư ngụ và chính trị, người hồi hương đã tập hợp đoàn ngũ nhằm tiến tới tăng cường đấu tranh bằng biện pháp mạnh (43)
Dù thể chất và pháp lý bị giới hạn trong trại, những đàn ông và phụ nữ Việt đã chứng minh họ sành chính trị thuật cộng với quyết tâm mãnh liệt cùng động cơ độc lập mà báo chí Mỹ đã không hề tự ý gán cho họ. Trên thực tế, những gì xuất hiện trên các phương tiện truyền thông phổ biến tràn ngập lúc bấy giờ trình bày người tị nạn Việt Nam qua hình ảnh trẻ em, nhắc nhiều tới các bà mẹ… đã khắc họa nên một vẻ gì thơ trẻ, phụ nữ, và "nụ mầm" cho đoàn người (44) trong lòng độc giả.
Ngược lại với những gì truyền thông diễn bày đó, phần lớn người hồi hương lại là nam giới, quyết định và hành động phản kháng của họ đã tạo ra một vấn đề tư tưởng cho các nhà hoạch định chính sách Mỹ.
Các cuộc biểu tình với hình ảnh biểu tượng dương cao cùng các hành vi phá hoại đã lộ ra một tác động chính trị tế nhị, đa chiều và ranh mãnh. Một mặt, người hồi hương có vẻ như cố dàn dựng sao cho hành vi của họ vừa làm lợi cho tiếng tăm của phe thắng trận ở Việt Nam (“cách mạng”) vừa để đánh bóng, lấy điểm cho thành tích "cách mạng" của mình. Mặt khác, những bãi công, kháng nghị ngày thêm liều lĩnh có vẻ như là một cơn tuyệt vọng tập thể tỏ với các quan chức Mỹ, với đảo Guam và với quân đội Mỹ. Người dẫn đầu đoàn hồi hương nhận ra rằng họ cần thuyết phục cả các quan chức Mỹ lẫn chính phủ Việt Nam về nguyên do và động cơ phi chính trị của họ; Tuy vậy, đây là một hành vi cân nhắc có vẻ mong manh và không thể lường trước …khá nhất lúc đó.
Đáp lại với những người Việt thỉnh nguyện đầu tiên, UNHCR nhanh chóng hợp tác thiết lập các thủ tục cho các cá nhân có nguyện vọng hồi hương. Họ thực hiện các cuộc tiếp xúc, phỏng vấn và nhấn mạnh quyền tự do lựa chọn cá nhân mà không bị một cưỡng bách nào. Đại diện UNHCR ở Guam, George Gordon Lennox nói, "Quyết định này là do họ đơn phương chọn. . . . không ai sẽ bị buộc phải làm bất cứ điều gì không muốn. Điều này nên được thực hiện rõ ràng" (45)
UNHCR cũng đã bắt đầu một chiến dịch phối hợp để quảng bá về khả năng hồi hương của người tị nạn nào đã nhập vào căn cứ quân sự Mỹ ở Pennsylvania, Florida, Arkansas, và California. Cả thảy có hơn 1.500 người Việt trên Guam dò hỏi về việc hồi hương, cùng với hàng trăm người Việt đã vào ở bên trong lục địa Hoa Kỳ. Suốt trong tiến trình này, người Mỹ nhiều lần khẳng định khả năng được phép hồi hương và niềm xác tín việc "tự do đi lại cho tất cả mọi người." (46)
Với cách giải quyết tận nơi, lần lượt đàn ông và phụ nữ đứng ra làm thủ tục theo nhóm hoặc đơn lẻ, và dù đầy thiện chí, các quan chức Mỹ dường như không sẵn sàng cho các vấn đề, các thắc phức tạp mà những đòi hỏi cấp bách mang tính chính trị của người hồi hương đặt ra.
Một trong những cuộc biểu tình tổ chức đầu tiên là tại Fort Chaffee thuộc Arkansas, nơi khoảng 180 cá nhân đã nộp đơn xin hồi hương. Từ nhóm này, một tốp chỉ dưới 80 người công khai phản đối điều mà họ cho là làm họ bị trễ chuyến. Họ phản đối bất bạo động, nhưng các quan chức Mỹ e rằng diễn biến có thể thành chống đối (47)
Lê Minh Tân, một cựu tùy viên quốc phòng bốn mươi bốn tuổi từng làm việc cho quân đội Hoa Kỳ tại Sài Gòn, trở thành người dẫn đầu dễ thấy nhất của tốp này và to tiếng hơn cả. Ông ta đề cao sức mạnh của Mỹ, khăng khăng rằng nếu Hoa Kỳ ưu tiên vận chuyển người hồi hương thì chuyến đi có thể xảy ra rất nhanh. "Chúng tôi rất thất vọng và muốn điên lên. Chính phủ Mỹ thiếu gì tiền và có rất, rất nhiều máy bay" (48)
Không như nhiều người hồi hương khác, ông [Tân] dàn dựng sự phản đối không chỉ nhằm mong muốn về với gia đình mà còn là một sự thống trách Hoa Kỳ. Bằng một thứ tiếng Anh đơn giản và ngắn gọn, ông lập luận: "Nó [Fort Chaffee] trông giống như một nhà tù. Chúng tôi rất buồn. Chúng tôi muốn trở lại [Việt Nam] ngay lập tức. Chúng tôi không muốn ở lại đây. Tôi nói thẳng rằng chúng tôi đã bị đưa vào tù hai tháng và hai tháng ấy lại là ở Hoa Kỳ". (49) Những phát biểu của ông ta không chỉ cảnh báo nhân viên Mỹ ở căn cứ mà còn nhắm tới nhiều người tị nạn Việt Nam tại Fort Chaffee, những người sợ rằng vụ đòi hồi hương sẽ làm xấu đi hình ảnh họ và tạo ra sự bất bình trong công chúng Mỹ.
Đáp trả lại, có một cuộc biểu tình thứ hai được tổ chức nhằm chống lại người đòi hồi hương và cùng ký tên trong Tuyên Bố: "Chúng tôi rất biết ơn người Mỹ" và "Tự chúng tôi tìm tới tự do" (50)
Dùng thuật phản biện chính trị quen thuộc, những người phản biểu tình gán cho người đòi hồi hương là “tay sai” Việt Cộng. Trong diễn biến lịch sử ấy, vào năm 1977, Phạm Kim Vinh, một giảng viên của Việt Nam cũng từng vào vai người tị nạn mới đây, nói rõ Tân là một trong những người cộng sản trà trộn vào, đã diễn tấn tuồng người tị nạn nhớ nhà và xách động người Việt đòi hồi hương cho công tác tuyên giáo (51)
Tân trả lời rành mạch về nhiệm vụ đó: "Nếu chúng tôi là cộng sản, thì chúng tôi đã chẳng tới Hoa Kỳ, hoặc Nếu chúng tôi là cộng sản, thì chúng tôi sẽ ở lại Hoa Kỳ và chuyển tin tức về Việt Nam. . . . Chúng tôi không phải là Cộng Sản. Chúng tôi chỉ là người yêu nước và muốn trở về." (52)
Những lập luận của Tân cũng như việc người phản biểu tình gán nhãn "cộng sản" vô tội vạ có thể đã khiến các quan chức Mỹ cau mày. Về căn bản thì khả năng Anh ngữ của người Việt tị nạn đã khẳng định rằng cái kết cục của họ ràng buộc chặt vào quân đội Mỹ. Số lớn người tị nạn Việt Nam, gồm cả người hồi hương và những người chọn cách tái định cư tại Hoa Kỳ, đều có thể giao tiếp bằng tiếng Anh, trong khi quân đội Mỹ tìm không ra một thông dịch viên dịch tốt tiếng Việt ở Guam và Arkansas. Cũng chẳng có gì ngạc nhiên khi người phản biểu tình đã vận dụng lối gọi "Việt Cộng" cho đoàn người đòi hồi hương. Trong khi một số ít những người đòi hồi hương đã tự đồng hóa với chính quyền mới thắng trận, hoặc có khi có người đã là thành viên của NLF, cho nên sự tách bạch cộng sản với chống cộng không thể mang tính chính trị cứng nhắc và triệt để được, đây là điều vốn đã làm đau đầu cả người Mỹ và nhiều người Nam Việt Nam trong hơn một thập kỷ. Sự từ chối [ở lại] của Tân cũng có thể đã gây một chút nghi ngờ. Đối với người Mỹ, nhiều người vốn thường không tin đồng minh Nam Việt Nam của họ, trường hợp Tân có thể có vẻ như là một trong số quá quen thuộc đó, một kẻ múa rối (hoặc đáng ngại hơn là VC) giả vờ làm bạn. Tạm gạt qua một bên việc đó, quân đội Mỹ đang lo ngại bạo lực có thể leo thang trên các chuyến bay hồi hương đến Camp Pendleton, nên họ cho phép quân cảnh không quân Mỹ lên tàu được trang bị vũ khí. Được vũ trang và cảnh giác cao độ, họ [quân cảnh] được dặn dò "duy trì trật tự" nếu người hồi hương có bất kỳ dấu hiệu biểu tình chính trị nào trong chuyến bay (53)
Một nhiếp ảnh gia quân đội Mỹ đã ghi nhận một cuộc biểu tình hồi hương mà nổi bật là hình vẽ chân dung Hồ Chí Minh. Nguồn ảnh: Cục Lưu trữ Quốc gia Hoa Kỳ.
Người Mỹ lo ngại về tình trạng bất ổn là hoàn toàn có căn cứ, trong mùa hè, cuộc biểu tình trên Guam bắt đầu leo thang. Nhiều chiến thuật của người biểu tình có vẻ như cốt để biểu thị 1 lập trường chắc chắn của họ cho chính quyền cách mạng mới chiến thắng ở Việt Nam thấy. Trong bản kiến nghị đầu tiên của họ với UNHCR, họ cố ý dùng ngôn phong quốc gia, dân tộc đặt ưu tiên lên trên việc đoàn tụ gia đình của cá nhân. Thỉnh nguyện thư bắt đầu bằng cách nhấn mạnh rằng họ đã "không bị mất nước, chẳng qua chỉ là một chế độ mới đã tiếp quản chính quyền". Thứ đến, họ muốn "góp phần xây dựng lại đất nước," và chỉ đến điều thứ ba họ mới ghi “mong muốn được đoàn tụ gia đình”. (54) Lối nói trình diễn này được kết hợp với các hình ảnh trực quan, cụ thể là, dương cao nổi bật khuôn mặt biểu tượng của Hồ Chí Minh tại cuộc biểu tình hồi hương và các sự kiện có tính quốc gia khác. Trong một sự kiện, nhiều người hồi hương đứng nghiêm dưới bức chân dung lớn và một biểu ngữ ghi: (nguyên văn): "Tinh Thần Cu Ho Chi Minh Bat Diet" - "The Spirit of Ho Chi Minh lasts forever" (55)
Một tiền lệ chưa từng có đã hiện diện trên một căn cứ quân sự của Mỹ vào năm 1975, những hình ảnh của Hồ Chí Minh có thể được xem như là một lời khiển trách trực tiếp đến Hoa Kỳ và cuộc chiến của Mỹ ở Việt Nam. Tuy nhiên, nhiều khả năng là bức họa Hồ Chí Minh đã như là một tín hiệu rõ ràng dễ hiểu hướng tới PRG ở Nam Việt Nam và VNDCCH ở miền Bắc. Đúng ra là, mục đích là để thuyết phục các PRG rằng người hồi hương sẽ là thành viên trung thành của xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Trong cuốn hồi ký của Trụ, ông có kể rõ vụ treo bức họa chân dung Hồ Chí Minh và lấy làm xấu hổ vì sự phô bày trơ trẽn đó… Lớn hơn cả một thế hệ so với đa số người hồi hương, Trụ cách biệt họ cả về tuổi tác lẫn cấp bậc, bản thân ông thì gắn bó mật thiết với truyền thống đạo Công giáo dòng của gia đình và lập trường chống cộng. Bằng một giọng văn thiện chí và khiêm hạ, Trụ chỉ trích mưu đồ dùng hình ảnh Hồ Chí Minh: "Chúng ta không nên ngạc nhiên khi thấy kẻ cơ hội như Bình [họa sĩ], bởi thực tế đó là chỉ là 1 lối diễn trò. Những kẻ cơ hội đó không có dụng ý tuyên truyền cho cộng sản, trong khi chính bản thân họ không biết gì về cộng sản cả" (56)
Dù hơi nặng lời, Trụ phân tích về cái hình ảnh biểu tượng mà ai cũng biết kia lọt vào dòng người hồi hương là cốt để làm nặng ký hơn cho minh chứng lòng trung thành của họ với chính quyền “cách mạng” mới trong nước.
Người hồi hương có thể đã hy vọng rằng một lập trường đối lập đối đầu với quân đội Mỹ như thế có khi sẽ giúp họ được hưởng ân huệ gì đấy ở Việt Nam, ngoài ra họ cũng nhắm nhiều tới công luận Mỹ và người ở Guam nữa. Họ tin rằng Hoa Kỳ dư khả năng trả họ về Việt Nam mà chẳng qua cố ý trì hoãn thế thôi. Khi đến Guam, Lê Minh Tân lập tức tổ chức một cuộc tuyệt thực hai ngày (57) với 250 người tham gia, quả là lúc ấy quân đội có báo cáo rằng chỉ phục vụ các bữa ăn cho chừng 20 phụ nữ và trẻ em trong trại. (58) Trong một bức ảnh đáng nhớ, một cặp vợ chồng già trong tư thế cầm một khẩu hiệu viết tay đơn giản: "Chúng tôi đang Nhịn Đói Biểu Tình". (59) Họ sát cánh bên nhau trong cùng một vẻ mặt ngang ngạnh thách thức càng làm tăng thêm hình ảnh thương tâm về khát vọng hồi hương. Người Việt đã tận dụng tốt khả năng tiếng Anh, từ viết khẩu hiệu, biểu ngữ trong trại cho tới viết thư cho báo chí địa phương. Có lẽ dùng tiếng Anh mạnh nhất là trong lối viết của riêng họ độc chiếm chữ "tù binh" cho mục đích tối hậu. Ví dụ một khẩu hiệu trần trụi như vầy: "We Are Not TÙ BINH" (60)
Mà quả đó là sự thật, người tị nạn Việt không hề là tù binh, cuộc sống của họ trong trại dù có bị giam hãm đấy nhưng nó gây một ấn tượng như nhau nơi nhân viện người Việt và người Mỹ. Quân đội đã cố phối hợp để phi quân sự hóa tình trạng sinh hoạt nơi trại tị nạn, nhưng vẫn còn dây kẽm gai, và các biện pháp an ninh quân sự, thêm vào đó người tị nạn đang trong tình trạng chờ đợi còn chưa ngã ngũ… tất cả đã làm cho sự phân biệt giữa một trại tị nạn với một trại tù binh là không nhiều mà quân đội Mỹ đã phải miễn cưỡng chấp nhận. Hơn nữa, người hồi hương Việt tự gán nhãn "tù binh" là lối cường điệu thái quá. (61) Thật là quá khác biệt với các tù binh Mỹ được mừng đón về nhà hồi năm 1973, nay, người Việt đã đảo ngược những gì người Mỹ từng biết chữ "giải cứu", họ tự đặt mình vào vị trí là kẻ bị giam cầm còn quân đội Mỹ như là kẻ bắt giữ.
Suốt mùa hè năm 1975, các quan chức UNHCR đã nhiều lần đến Hà Nội và Sài Gòn, tìm hiểu về các khả năng và thủ tục hồi hương. Lúc đầu PRG tỏ vẻ rộng mở cho ít nhất một số lượng nhỏ người hồi hương, và UNHCR đã chủ động nộp hồ sơ hồi hương cho chính phủ mới với hy vọng sẽ nhanh chóng có giải pháp. Tuy nhiên, sau một vài tuần, rõ ràng là PRG đã không còn bận tâm tới các yêu cầu hồi hương, mọi việc đã bàn mấy tuần trước, nay không nhúc nhích. Thực tế là PRG có trưng ra các hồ sơ cá nhân, nhưng vẫn không đáp ứng yêu cầu hồi hương, và nếu bất cứ điều gì đã xảy ra thì đó là diễn tiến hồi hương đã chẳng được tiến triển là bao trong mùa hè. (62) Thay vào đó, PRG yêu cầu đàm phán trực tiếp với Mỹ và từ chối giải quyết các yêu cầu hồi hương qua UNHCR hoặc một nước thứ ba. Họ cũng lảng tránh những yêu cầu hoàn bị về hồi hương đồng thời mong vụ người hồi hương sẽ cho phép PRG đạt thêm sức hậu thuẫn và làm áp lực khiến chính phủ Hoa Kỳ phải công nhận chính phủ mới [của họ] về mặt ngoại giao. Các cuộc xung đột nội bộ do tranh giành quyền lực giữa quân đội và phe dân sự tại Nam Việt Nam, nạn đói, tàn phá môi trường, biến động kinh tế, cùng số thương vong rất lớn sau chiến tranh…khiến đề tài cho phép hồi hương hay không vẫn nằm ở vị trí rất thấp trong danh sách ưu tiên của PRG. Đó là chưa kể PRG còn sợ Hoa Kỳ cài gián điệp thâm nhập trong số người hồi hương nữa (63)
Dù phản ứng tiêu cực của PRG, vào khoảng tháng Bảy, những ra mặt phản kháng của người hồi hương đã bắt đầu có tác dụng trên đảo Guam. Các đại diện của UNHCR cùng Thống đốc Bordallo và các quan chức Mỹ cấp cao mời những người đứng đầu đoàn người hồi hương đến họp. Tại bàn đàm phán này, người hồi hương có thể trực tiếp đặt câu hỏi cũng như gây áp lực các quan chức. Với cách trọng thị người hồi hương bằng một cuộc đối thoại, Hoa Kỳ và UNHCR đã ngụ ý một thực tế khác xa giữa người hồi hương và tù binh, vốn là một điều khó nói lâu nay. Trước tiên, Thống đốc đề xuất giải pháp của mình, cụ thể là, cấp cho người hồi hương một con tàu để quay về Việt Nam do họ tự đảm nhiệm. Người hồi hương hưởng ứng nhiệt tình và nói thêm họ có nhiều thủy thủ giỏi. Tại thời điểm đó, các đại diện UNHCR đã không bảo đảm chắc chắn, chỉ hứa sẽ thông qua ý tưởng này đến Ủy ban cấp cao. (64) Ngoài ra, các cuộc đàm phán mà UNHCR xúc tiến rơi vào bế tắc, vì Hoa Kỳ không công nhận PRG hay VNDCCH và cũng không trực tiếp tham gia vào các cuộc đàm phán.
Những người hồi hương Việt đáp lại bế tắc bằng cách phản đối mạnh chính quyền Mỹ và từ chối việc họ bị cưỡng chế ở trong trại. Cùng với cách tiếp cận mới và các cuộc gặp tương đối thân thiện với Mỹ và các quan chức UNHCR, Lê Minh Tân dẫn 251 người tị nạn ra khỏi Trạm Truyền thông Hải quân là nơi họ đã tập hợp đoàn ngũ và cùng đi bộ ra khỏi căn cứ hơn nửa dặm. Người hồi hương mang đồ đạc của họ trong những túi và hộp dường như để chuẩn cho việc rời bỏ căn cứ dài ngày. Một người mặc một chiếc T-shirt với khẩu hiệu chẳng lành tô đậm kẻ ngang qua mặt trước của chiếc áo: "Hãy giết chúng tôi hoặc trả chúng tôi về" (65)

Vi phạm vòng đai quân sự của Mỹ, người hồi hương đã vụt tăng tính liều lĩnh bất chấp. Các chỉ huy cảnh sát và nhân viên đã dùng gậy và ma trắc lùa được đoàn người vào xe buýt và đưa họ trở lại Orote Point, cô lập Tân ra khỏi đoàn. Qua hôm sau, một nhóm thứ hai lại rời bỏ trại tọa lạc trong Công ty Nạo vét Hawaii. Hai trăm người đã tuần hành với hai bàn tay bị trói sau lưng họ để tượng trưng cho hình ảnh tù tội. Họ cố ý trình diện mình ra trước đám đông, đứng trước hãng Shakey Pizza, hãng pizza lớn nhất trên đảo Guam, ngay vào giờ giao thông cao điểm, cũng với áo T-shirt bày ra các khẩu hiệu chính trị. Cùng với họ là năm trăm người hồi hương khác diễu hành ra khỏi trại Công ty Xây dựng Black cũng với các dải ruy băng và hàng chữ đỏ: "Chúng tôi không phải là tù binh chiến tranh". Với cách phối trí và tập trung đội hình, người hồi hương đã gây được sự chú ý. Việc cố tình lặp đi lặp lại sánh mình với tù binh chiến tranh trong suốt hành trình chậm rãi rời khỏi các trại tị nạn nhấn mạnh không chỉ khát vọng về nước mà còn thể hiện sự tức giận khi họ bị giam giữ trong các trại tị nạn của Mỹ. Các cuộc biểu tình đã đạt được đà chuyển động cho sự việc khi họ đã khôn khéo gây được ấn tượng đến các quan chức Mỹ chủ chốt và gây được áp lực đến Mỹ quốc, UNHCR, cũng như các quan chức địa phương đảo Guam bất chấp những hiện trạng hạn chế của họ trong một môi trường quân sự lẫn tư thế pháp lý hiện hữu của họ. Có điều đáng chú ý là Lam Duoi, một người dẫn đầu trại, người cho đến thời điểm đó đã nói với báo chí bằng cả tiếng Pháp lẫn tiếng Anh, giờ lại khẳng định chỉ bằng tiếng Việt. Một người đứng đầu đoàn hồi hương khác là cựu Thiếu Tá Không Quân, Lê Văn Hải, cho biết "ông và đồng bào của mình bị đối xử như tù nhân". (66)
Hoa Kỳ phản ứng với các cuộc biểu tình đồng loạt ấy bằng cách hợp nhất tất cả người hồi hương lại tại Trại Asan, nơi họ có thể được theo dõi chung và giám sát dưới thẩm quyền của quân đội. (67) Bây giờ thì rõ ràng là bị giam giữ đúng nghĩa vì đã phạm lỗi và bị dè chừng, người hồi hương thảo luận một chiến thuật hiệu quả khác và cố đạt được sự đồng cảm của công luận. Lại một lần nữa, như một chuyển biến chính trị bất ngờ, người hồi hương đã do dự và cân nhắc vạch ra những chiến lược hiệu quả khác. Quá trình phản kháng đã tạo ra sự chia rẽ trong nhóm, với một nhóm chủ trương "trung dung" thì đôn đốc biện pháp ngoại giao và nhẫn nại, trong khi một phe khác ủng hộ chủ trương cứng rắn. Người ta chứng kiến những chia rẽ này qua việc người hồi hương tranh nhau dựng những khẩu hiệu lên trong trại. Một khẩu hiệu kêu gọi một cách lịch sự: "Các bạn đảo Guam và nhân dân Mỹ thân mến, mong muốn của chúng tôi chỉ là được về nhà. Chúng tôi không muốn làm phiền các bạn và đánh mất thiện cảm mà các bạn dành cho. Hãy hiểu cho hiện chúng tôi đau đớn như thế nào và xin cố gắng hỗ trợ ý nguyện hồi hương của chúng tôi". Một yết thị khác kém ôn hòa hơn: "quyết nhịn đói cho đến chết". (68) Người hồi hương cũng tiếp tục một loạt các cuộc tuyệt thực, có một người đàn ông dọa sẽ chặt ngón tay để phản đối và sẽ viết thư cho Tổng thống Gerald Ford bằng máu. (69) Người hồi hương khác đang còn ở Trại Pendleton ở California, cũng đã bắt đầu một chiến dịch cứng rắn hơn để cùng tham gia với đoàn người ở Guam. (70) Một người khác dọa tự sát để tận hiến cho việc chung, một hình ảnh gây ấn tượng mạnh chống Diệm thuở nào khi một nhà tu Phật giáo tự thiêu hồi 1963. Trong suốt các cuộc phản kháng này, người hồi hương luôn quay trở lại giải pháp "Cấp Một Con Tàu". (71)
Khi thất vọng dâng cao, vào tuần cuối của tháng Tám, khoảng 200 đến 300 trong đoàn 1600 người hồi hương đã tổ chức một cuộc phản kháng mà về sau biến thành quá khích đúng nghĩa với ném đá, bom xăng và gậy gộc. Cực điểm của nó là hai trại lính trong trại bị đốt cháy và tài sản quân sự bị phá hủy. Trong cơn giận dữ và thất vọng họ quay lại chống chính trại đang ở. Để đối phó với cơn loạn đả này, các cấp chỉ huy Mỹ đã phải dùng đến hơi cay, và quân đội Mỹ đã đặt một đơn vị hành động của lính thủy trong tình trạng báo động. Kết thúc cơn loạn đả, người hồi hương đã làm bị thương 4 cấp chỉ huy Mỹ. (72)
Các quan chức Mỹ, UNHCR, cũng như Guam hầu như đã bế tắc không tìm ra một giải pháp nào.


(còn tiếp Phần 5: "Guam: Hòn Đảo Dữ"Phần Kết)

©TV PVT 2015

Bài Liên Quan: Chuyện tàu Việt Nam Thương Tín - Thư Viện Phạm Văn Thành tổng hợp

Tài liệu tham khảo liệt kê bởi tác giả


43. The subhead for this section is from Chips Quinn, “Repatriates Plan for Strike Today,” PDN, July 11, 1975.
44. Liisa Malkii, “Speechless Emissaries: Refugees, Humanitarianism, and Dehistoricization,” Cultural Anthropology 11.3 (1996): 377–404.
45. Ronn Ronck, “We Wants to ‘Go Home to Die,’” PDN, May 28, 1975.
46. Henry Kissinger, Review of US Policy on Repatriates, July 23, 1975, RG 220, box 4, folder 9/6 Repatriation.
47. Ibid.; Martha Alcott, “Viets Stage Demonstration,” Southwest Times Record, June 21, 1975.
48. “80 Refugees Want Repatriation ‘Now,’” PDN, June 22, 1975.
49. Chips Quinn, “‘Not Giving Up’ until They’re Home,” PDN, July 6, 1975.
50. “. . . At Ft. Chaffee, a Protest March against Repatriates’ Protest March,” PDN, June 23, 1975; “Viets Show Gratitude,” Southwest Times Record, June 23, 1975.
51. Pham Kim Vinh, The Politics of Selfishness, Vietnam: The Past Is Prologue (San Diego: Pham Kim Vinh, 1977), 128–33.
52. “80 Refugees Want Repatriation ‘Now.’”
53. Press Guidelines for Senior Civil Coordinators and Press Officers, July 4, 1975, RG 220, box 4, folder 9/6 Repatriation.
54. Hendrick, “Refugees Waiting to Return.”
55. Untitled Image, September 20, 1975, RG 319, box 19. Translation by Marguerite Nguyen.
56. Tran Dinh Tru, Vietnam Thuong Tin, 159–74.
57. “Repatriates Plan Strike for Today,” PDN, July 11, 1975.
58. “Refugee Hunger Strike Falls Short of Mark,” PDN, July 12, 1975.
59. “We Are on Hunger Strike,” PDN, July 12, 1975.
60. “80 Refugees Want Repatriation ‘Now’”; Quinn, “Repatriates Plan for Strike Today”; Susan Guffey, “Repatriate Shows Continue: Group Moved to Apra,” PDN, July 26, 1975.
61. See Edwin A. Martini, Invisible Enemies: The American War on Vietnam, 1975–2000 (Amherst: Uni-versity of Massachusetts Press, 2007); Michael J. Allen, Until the Last Man Comes Home (Chapel Hill: University of North Carolina Press, 2009).
62. Secretary of State to US Mission, Re: Vietnamese Repatriates, July 22, 1975, RG 59, 1975State171829; Secretary of State to US Embassy Bangkok, Repatriates, July 23, 1975, RG 59, 1975STATE170895.
63. Action Memorandum, September 4, 1975, RG 59, 1975STATE 208902.
64. “Give Repatriates a Ship: Bordallo,” PDN, July 20, 1975.
65. Chips Quinn, “Repatriates Walk Out, Get Less Than Mile,” PDN, July 25, 1975.
66. Guffey, “Repatriate Shows Continue.”
67. Carroll, Operation New Life, 17.
68. Photo, “Hunger Strike until Die,” PDN, September 6, 1975; “A Group Divided,” PDN, September 7, 1975.
69. Secretary of State to US Mission Geneva, July 19, 1975, RG 59, 1975STATE170890; and Secretary of State to US Mission, July 22, 1975, RG 59, 1975STATE171829.
70. “Viets Threaten to Burn Selves If Not Sent On,” PDN, September 14, 1975; and Secretary of State to CINCPACREP Guam, September 18, 1975, RG 59, 1975State 222847.
71. David Teibel, “Signs of Dissension Seen among Repatriates,” PDN, August 20, 1975.
72. Situation Summary, September 5, 1975, RG 319, box 1, folder—Situation Summaries, June 12—July 31, 1975.




Bản quyền (copyright) thuộc về Thư Viện Phạm Văn Thành (TV PVT)


Văn bản nguyên văn:

“Give us a Ship”: The Vietnamese Repatriate Movement on Guam, 1975 - By Jana K. Lipman

“We are not POWs”

Consolidated on Guam in physical and political limbo, repatriates mobilized collectively through increasingly militant actions.43
Although physically and legally confined in camps, these men and women demonstrated political skills, fierce determination, and independent motivations that the American press did not attribute to Vietnamese refugees at large. In fact, photographs in the popular media overwhelmingly represented Vietnamese refugees through images of children, often with their mothers, mapping an ideology of innocence, femininity, and “new beginnings” onto their bodies.44 In contrast, the repatriates were overwhelmingly male, and their oppositional decisions and actions created an ideological problem for American policymakers. The repatriates’ highly symbolic demonstrations and destructive acts revealed a political sensibility and agency that was multidirectional and astute. On the one hand, repatriates seemed to stagemanage actions for the benefit of revolutionary Vietnam in order to burnish their own “revolutionary” credentials, while on the other hand, walkouts, protests, and growing desperation seemed to be collective outbursts of frustration with U.S. officials, Guam, and the U.S. military. Repatriate leaders recognized that they needed to persuade both the U.S. officials and the Vietnamese governments of their cause and apolitical motivations; however, this was an unpredictable and precarious balancing act at best.
In response to the first Vietnamese petitioners, the UNHCR quickly and responsively set up procedures for individuals interested in repatriation. It con-ducted interviews and emphasized individuals’ choices free of any coercion. As Guam’s UNHCR representative George Gordon Lennox stated, “This decision is theirs alone to make. . . . nobody will ever be forced to do anything they don’t want to. This should be made clear.”45 The UNHCR also began a concerted campaign to advertise the possibility of repatriation to refugees already on U.S. military bases in Pennsylvania, Florida, Arkansas, and California. In total, more than 1,500 Vietnamese on Guam inquired about repatriation, along with several hundred Vietnamese already in the continental United States. Throughout this process, the United States repeatedly affirmed the possibility of repatriation and its belief in “freedom of movement for all people.”46 With the policy in place, men and women began to come forward collectively and individually, but for all the U.S. goodwill, officials seemed unprepared for the complex problems and questions repatriates’ political demands would bring.
Tan’s rhetoric and the counter demonstrators’ liberal use of “communist” may have raised some eyebrows among U.S. officials. On the most basic level, Vietnamese refugees’ facility with English spoke to their close ties with the U.S. military. Large numbers of the Vietnamese refugees, both repatriates and those who chose to resettle in the United States, could communicate in English, while the U.S. military was desperate for good Vietnamese translators in Guam and in Arkansas. It also should not be surprising that the counter demonstrators wielded the “Viet Cong” epithet at the repatriates. While few of the repatriates identified with the revolutionary government or had been part of the NLF, the communist-anticommunist dichotomy was the imperfect political framework that had governed both Americans and many South Vietnamese for more than a decade. Tan’s own denials may also have appeared somewhat suspect. For Americans, many who had always distrusted their South Vietnamese counterparts, Tan may have seemed an all-too-familiar figure, a troublemaker (or more ominously a VC) masquerading as a friend. Regardless, the U.S. military worried that violence could escalate on repatriate flights to Camp Pendleton, and it authorized U.S. Air Force security police to carry sidearms on board. Armed and on the alert, they were instructed to “maintain order” if repatriates initiated any political demonstrations inflight.53
The Americans’ fears of unrest proved well-founded, and over the summer, the repatriates’ protests on Guam escalated. Many of the repatriates’ tactics seemed firmly aimed at the revolutionary government in Vietnam. In their first petition to the UNHCR, they self-consciously privileged the language of nation and nationalism over personal family reunification. The petition began by emphasizing that they had “not lost a country, rather a new regime has taken over the government.” Second, they wanted to “help with their country’s reconstruction,” and only third did they state a desire to be reunited with their families.54 This discursive rhetoric was matched by visual images, namely, the prominent display of Ho Chi Minh’s iconic visage at repatriates’ protests and nationalist events. During an organized event, repatriates stood at attention under the large portrait and a banner declaring, “Tinh Than Cu Ho Chi Minh Bat Diet,” or “The Spirit of Ho Chi Minh lasts forever.”55 Particularly anomalous given its presence on a U.S. military base in 1975, the images of Ho Chi Minh could be seen as a direct rebuke of the United States and the U.S. war in Vietnam. However, more likely, the Ho Chi Minh paintings acted as an easily legible signal directed at the PRG in South Vietnam and the DRV in the North. In all probability, the goal was to convince the PRG that the repatriates would be loyal members of socialist Vietnam.
In Tru’s memoir, he wrote explicitly about the Ho Chi Minh portraits and his own shame in their prominent display. A generation older than the majority of the repatriates, Tru stood apart in both age and rank, and he identified strongly with his family’s Catholicism and anticommunism. In a tone both sympathetic and condescending, Tru criticized the strategic use of Ho Chi Minh’s image: “We shouldn’t be surprised at opportunists like Binh [the artist], because in reality it was just play acting. These opportunists didn’t mean to propagandize for Communism, for they themselves didn’t know at all what Communism was.”56 While dismissive, Tru’s analysis of the images corresponded to a popular recognition among repatriates that the burden would be on them to prove their loyalty to the new revolutionary government.

Repatriates may have hoped that an oppositional stance vis-à-vis the U.S. military would be seen favorably in Vietnam, but they also aimed many of their actions firmly at an American and Guamanian audience. The repatriates believed the United States had the power to return them to Vietnam and was simply stalling. On his arrival in Guam, Le Minh Tan immediately organized a two-day hunger strike.57 Two hundred and fifty individuals participated, and the military reported that it served meals to only twenty women and children in the camp.58 In one memorable photograph, an elderly couple posed holding a handwritten sign declaring simply, “We are on Hunger Strike.”59 The juxtaposition of their aged bodies and faces with the defiant sign lent a moving image to the repatriates’ cause.

Vietnamese repatriates made good use of their English-language skills, displaying signs and banners within the camps, and writing letters to the local newspapers. Perhaps the repatriates’ most powerful use of English was in their appropriation of “POW” to their own ends. As one sign stated baldly: “We Are Not POWs.”60 And while it was true, Vietnamese refugees were not POWs, their confinement and camp life struck a nerve with Vietnamese and American personnel alike. The military made a concerted effort to demilitarize the refugees’ living situations, but the barbed wire, military security, and indefinite waiting all made the distinctions between a refugee camp and a POW camp slimmer than the U.S. military may have liked to admit. Moreover, Vietnamese repatriates labeling themselves as “POWs” was a rhetorically powerful move.61 Quite distinct from the POWs Americans welcomed home in 1973, Vietnamese repatriates inverted Americans’ understanding of “rescue” and positioned themselves as the captives and the U.S. military as the captor.
Throughout the summer of 1975, the UNHCR officials made multiple visits to Hanoi and Saigon, inquiring about the possibilities and procedures of repatriation. At first the PRG seemed open to at least a small number of repatriates, and the UNHCR proactively submitted applications to the new government in hopes of a quick resolution. However, after a matter of weeks, it was clear the PRG was not pursuing the repatriate question with any speed. In fact, the PRG held up individual applications, did not respond to repatriates’ requests, and if anything, became less receptive to repatriation over the summer.62 Instead, the PRG demanded direct negotiations with the United States and refused to settle the repatriate question through the UNHCR or a third country. It either wanted to avoid the repatriate question entirely or hoped the repatriates would allow the PRG some leverage and pressure the U.S. government to recognize the new government diplomatically. Internal conflicts between military and civilian factions were competing in South Vietnam, and with hunger, environmental devastation, economic upheaval, and huge casual-ties, the repatriates remained very low on the PRG’s priority list. In addition, the PRG feared that the United States “has infiltrated the repatriates with covert agents.”63
Despite the PRG’s negative response, by July the repatriates’ protests and agitation began to pay off on the ground on Guam. The UNHCR
representatives, Governor Bordallo, and high-ranking U.S. officials invited repatriate leaders to a meeting. Here the repatriates were at the table and able to question and pressure officials directly. By including the repatriates in the dialogue, the United States and UNHCR indicated how far from POWs the repatriates in fact were, yet there were no easy answers. At this meeting, the governor first suggested his solution, namely, give the repatriates a ship to return to Vietnam under their own power. The repatriates responded enthusiastically and added that many were skilled seamen. At this point, the UNHCR representatives were noncommittal and promised only to pass this idea to the High Commission.64 In addition, the UNHCR talks were at a standstill, because the United States refused to recognize either the PRG or the DRV or to engage in direct negotiations.
The Vietnamese repatriates responded to the impasse by challenging U.S. authority and rejecting their militarized detention. Even with new access and the relatively amicable meeting with U.S. and UNHCR officials, Le Minh Tan led 251 refugees off the Naval Communications Station where they were held and walked more than half a mile off the base. The repatriates carried their belongings in bags and boxes and seemed prepared to leave the base permanently. One repatriate wore a T-shirt with the ominous slogan, “Kill us or send back” blazoned across the front.65 Violating the U.S. military perimeter, the repatriates upped the ante. Using nightsticks and mace, the marshals and police herded the repatriates into buses and drove them back to Orote Point where they isolated Tan from the group.

Then the next day a second group of repatriates deserted the camp located in the Hawaiian Dredging Company. Two hundred individuals marched with their hands tied behind their backs to symbolize their imprisonment. Self-consciously proclaiming their presence to a public audience, they stood in front of Shakey’s Pizza, the largest pizzeria on Guam, in front of rush-hour traffic, again wearing T-shirts displaying political slogans. In conjunction, five hundred more repatriates marched off the Black Construction Company camp with red ribbons and signs that read “We are not prisoners of war.” These protests were notable for their coordination and focus. The repetitive comparison to POWs alongside their deliberate move out of the camps highlighted not just their readiness to return home but their anger with their confinement in U.S. camps. Their protests gained momentum as repatriates nimbly pressed U.S. officials’ buttons and pressured U.S., UNHCR, and Guamanian officials despite the constraints of their militarized environment and legal position. Notably, Lam Duoi, a camp leader, who until that point had spoken to the press in both French and English, now insisted on speaking only in Vietnamese. Another repatriate leader and former Air Force major, Le Van Hai, said “he and his fellow campmates were treated like prisoners.”66

The United States responded to these coordinated protests by consolidating all of the repatriates at Camp Asan where they could be collectively monitored and policed on military property.67 Now clearly detained and under suspicion, the repatriates debated effective tactics and attempts at gaining public sympathy. Yet again, the political moment was contingent, and repatriates vacillated and debated effective strategies. The protests created dissension within the group, with a more “moderate” cohort urging greater diplomacy and patience, while a more aggressive faction advocated violence. These divisions could be witnessed by the competing signs repatriates erected within the camp. One sign urged politely, “Dear Guamanian and American People, Our desire is only to go home. We don’t want to disturb you and to be lost your sympathy that would be reserved for us. Please understand that how painful we are now and try to support our repatriation.” Another billboard demanded less amiably, “Hunger strike until die.”68 Repatriates also continued a series of hunger strikes, and one man threatened to slice off his own finger in protest and write a letter to President Gerald Ford in his own blood.69 Other repatriates remained at Camp Pendleton in California, and they too began a more aggressive campaign to
join the cohort in Guam.70 Another individual threatened to self-immolate, a highly potent image that invoked the anti-Diem, Buddhist immolations in 1963. Throughout these protests, repatriates consistently returned to the “Ship Option.”71

The frustration mounted, and by the last week of August, two hundred to three hundred of the sixteen hundred repatriates staged a protest that became violent, complete with rock throwing, Molotov cocktails, and pipe wielding. At its climax, repatriates burned down two barracks within the repatriate camp and destroyed military property. Their anger and frustration turned against the camp itself. In response to the melee, U.S. marshals resorted to tear gas, and the U.S. military ordered a U.S. Marine action unit on alert. In the end, repatriates injured four U.S. marshals.72 The U.S., UNHCR, and Guamanian officials were desperate for a resolution.

[From page 12 to page 19]

(continue...)
-

0 nhận xét:

Post a Comment