Wednesday, April 1, 2015

Chuyện tàu Việt Nam Thương Tín 2 - Phần 3

"'Give Us A Ship': The Vietnamese Repatriate Movement on Guam, 1975" by Jana K. Lipman - Tạp Chí American Quarterly Volume 64, Issue 1 (số ra tháng 3 năm 2012)

(tiếp theo Phần 2)

Nguyên tác "'Give Us A Ship': The Vietnamese Repatriate Movement on Guam, 1975"

"‘Hãy để chúng tôi về’: Chuyện những người Việt hồi hương từ đảo Guam, năm 1975"
Lê Tùng Châu dịch

từ trang 9 - trang 12

Di cư, gia đình tan vỡ, và bắt cóc

Ngay từ 03 tháng 5/ 1975, một số viên chức không quân Việt Nam tiên phong yêu cầu hồi hương, và trong vòng vài tuần, lượng người cùng đòi về tăng lên hơn hai ngàn (28)
Những đàn ông và phụ nữ muốn quay trở lại Việt Nam là ai? Có phải họ đã có ý rời khỏi Việt Nam? Có phải thực họ thay đổi quyết định nửa chừng? Hay họ là gián điệp của Mặt Trận Giải Phóng (MTGP) hay người của cơ quan tình báo Mỹ CIA cài vào? Tóm lại, tại sao người ta lại làm thế? Sự hiện diện của người hồi hương trên Guam nói lên sự hỗn loạn và tràn ngập mau lẹ các sự kiện khi quân Bắc Việt tiến vào Sài Gòn.
Người hồi hương biểu tỏ tức giận và hoang mang khi thiếu tự chế [để phải ra đi] và các mối vòng vo rốt cuộc dẫn họ tới Guam. Đằng sau các tuyên bố chính thức thì lý do trở về thật đa dạng, trong đó có đoàn tụ gia đình, cống hiến cho đất nước, cũng có một ít lý do bày tỏ cả sự tuân thủ chính trị với chính quyền mới nữa. Ở phạm vi trình bày cá nhân thì nhấn mạnh đến cái chuyển biến bất ngờ khiến họ phải ra đi, bộc lộ vẻ sợ hãi của cả nam lẫn nữ khi bỗng đoạn tuyệt với quá khứ, và rồi, không biết tương lai sẽ ra sao.
“Việt Nam Thương Tín, Con Tàu Định Mệnh” là một trong số ít hồi ký về chuyện hồi hương này bằng Việt ngữ mà tôi đã dẫn, trong đó Trần Đình Trụ [tác giả] giải thích quyết định của mình qua lập trường đoàn tụ gia đình. Trụ sinh trưởng ở miền Bắc Việt Nam trong một gia đình Công giáo truyền thống, bỏ chạy vào miền Nam Việt Nam sau năm 1954. Là một giáo dân sùng đạo và kiên cường chống Cộng, vào năm 1975 Trụ bốn mươi tuổi và là một trung tá Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa. Khi quân Bắc Việt vào Sài Gòn, để chuẩn bị cho vợ và gia đình trốn thoát, ông đã sắp xếp một con tàu đón họ ở Năm Căn phía Nam Sài Gòn. Chính ông đã ra lệnh một tàu chiến lo giúp cuộc di tản này. Bất chấp những nỗ lực tốt nhất của Trụ, viên thuyền trưởng, vốn đã cố nài nỉ để gia đình mình cũng được giải cứu, đã nói dối với Trụ và rồi anh ta đã không hề đặt chân lên bờ để tìm cho ra gia đình Trụ. Trụ đến Guam trong nỗi cô đơn và tuyệt vọng (29)
Dù Trụ tin rằng ông dễ dàng hòa nhập ở Hoa Kỳ nhờ vào trình độ tiếng Anh khá và kinh nghiệm làm việc với quân đội Mỹ, ông vẫn không thể cam lòng bỏ gia đình lại dưới sự cai trị của cộng sản. Thay vào đó, ông quyết định trở về: “Tôi sẵn sàng chấp nhận tất cả mọi thứ thậm chí bị tù hoặc chết. Rồi nếu tôi không chết mà chỉ bị tù vài năm, đến ngày ra tù, tôi vẫn có thể tìm cách đưa gia đình tôi thoát khỏi đất nước. . . . Bằng mọi giá tôi sẽ đưa gia đình tôi ra khỏi Việt Nam”. Bạn bè cũng như thân nhân đã cố thuyết phục ông đi Mỹ, nhưng "không gì lay chuyển được quyết tâm của tôi" (30)
Là một sỹ quan cao cấp nhiều kinh nghiệm, Tru trở thành nhân vật dẫn đầu cộng đồng người hồi hương. Trong cuốn hồi ký dửng dưng ấy, những dòng kể của nam quân nhân này hầu như chỉ đau đáu một nỗi niềm đoàn tụ và giải cứu gia đình, vợ con chạy thoát chủ nghĩa cộng sản. Được viết lại sau sự kiện hàng thập niên, ông đã giải thích quyết định lạc lối của mình để trở về với Việt Nam cộng sản như là một hành vi chống Cộng.
Giống như Trần Đình Trụ, khoảng 80 phần trăm người hồi hương là quân nhân Việt Nam, nhưng hầu hết là binh sĩ cấp thấp nhất trong quân đội (31)
Đoàn người hồi hương đông đảo ấy đã là một đa số áp đảo người đàn ông đơn độc này. Trẻ hơn một thế hệ và có nhiều khả năng vừa mới được tuyển mộ nhập ngũ trong những năm cuối cùng của cuộc chiến, hầu hết họ đã không đồng tình lập trường chính trị chống cộng của Trụ, họ cũng chống lại một áp đặt hay quy chụp một quan niệm gì khác lên lựa chọn hồi hương. Như một đại diện UNHCR ở Guam giải thích, "[Họ] không quan tâm đến những thay đổi chính trị trong nước. Tất cả những gì họ muốn làm quay về với gia đình đang còn ở Nam Việt Nam. Hầu hết còn không tin rằng họ đang thực sự trên đảo Guam" (32)
Julia Taft, người đứng đầu lực lượng đặc nhiệm liên ngành, đồng tình: "Gần như tất cả trường hợp là đoàn tụ gia đình", cô giải thích. Taft cũng thừa nhận rằng quân nhân cấp dưới có thể có ít sự lựa chọn trong "di tản" Cô tiếp tục: “Một số chuyên viên không quân và kỹ sư hàng hải, đã bị cấp trên buộc phải ra đi” (33)
Nhiều người trong số họ không hề có ý định rời khỏi Việt Nam vĩnh viễn, và họ thuật lại cuộc hành trình của họ đến Guam như là một sự biến ngoài ý muốn, hoặc vì thông tin sai lạc, và thậm chí bị “bắt cóc” phải ra đi nữa!
Xin nhắc lại rằng, người hồi hương là phi công và thủy thủ VNCH tuyên bố họ đã rời Nam Việt Nam trong những giờ sôi bỏng của cuộc chiến mà không nhận ra rằng hễ đã đi là không còn quay lại được. Ví dụ, khi Bắc Việt bắt đầu pháo kích phi trường Tân Sơn Nhất, một phi công theo thượng lệnh đã bay sang các căn cứ không quân U-Tapao của Thái Lan. Ông giải thích việc đó "phần nhiều là để để cứu máy bay khỏi bị hủy diệt cũng như để cứu những người trên tàu" Chính ông ta cũng không có ý định di tản: "Sống mãi trong một quốc gia nước ngoài và chấp nhận một quốc tịch khác không phải là lựa chọn của tôi" (34)
Tương tự, một thủy thủ trẻ kể lại, "Tôi không có ý định đi Mỹ, nhưng sau khi đã lên tàu, tôi mới hay là chúng tôi đang hướng đến Vịnh Subic ở Phi Luật Tân và không sao còn có thể quay lại Việt Nam". Anh nói thêm anh còn cha mẹ, anh em, chị em đang ở Việt Nam, và anh muốn quay về (35)
Cái cảm giác bị nhổ bỏ, thiếu đáng kể quyền lựa chọn… là một thứ kiểu mẫu chung lặp đi lặp lại nhan nhản nơi các tài liệu và báo chí của Guam. Tập trung tới gia đình nhiều hơn là chính trị, những người trẻ tuổi tự bày tỏ là cảm thấy lạ lẫm với cả cuộc hành trình đưa họ đến Guam lẫn môi trường sống hiện tại của họ trong trại tị nạn.
Trong 1 tường trình đáng sợ nhất, có mười ba người đàn ông Việt cáo buộc lính Mỹ dùng thuốc mê và rồi bắt cóc họ. Như lặp lại câu chuyện của người phi công bên trên, những người này kể đi kể lại mười mấy viên chức VNCH trú đóng tại phi trường Tân Sơn Nhất "đã rất sợ bị chuyển đi U-Tapao (Thái Lan) ngay" ra sao. Khi đến nơi, câu chuyện lại diễn biến xấu hơn. Ít nhất sáu mươi lăm người yêu cầu được trở về Việt Nam. Đáp lại, Mỹ và quân đội Thái Lan dọa sẽ tống họ vào nhà tù ở Thái Lan. Đến lúc ấy, 52 kẻ ra yêu sách mới đồng ý đến Guam, trong khi 13 người còn lại kiên quyết "một lần và cho tất cả không đi [đến Guam], hoặc bị giết hoặc còn có cơ hội về nước" (36)
Một cấp chỉ huy quân đội Mỹ đã phản ứng lại thách thức đó bằng cách gây mê những người này bằng Natri Pentathol và THORAZINE (*), và sau đó dùng máy bay đưa họ đi trong tình trạng hôn mê. Khi thức dậy ở Tent City trên Guam, không những họ rơi vào trạng thái mất phương hướng mà còn chóng mặt và đau đớn. Trong mấy ngày chờ đợi trước khi được đưa đi để chăm sóc y tế, họ tỏ vẻ không tin các bác sĩ Mỹ, và lần lượt các bác sĩ ở đây hết vị này đến vị khác đều không tin họ nói thực cho đến khi khám mới thấy chân của các quân nhân này bị thương tích với đầy những vết kim đâm lỗ chỗ. (37) Điều tra vụ này, Hoa Kỳ đã thừa nhận trách nhiệm của một sĩ quan Hoa Kỳ đã có hành vi lạm dụng biện pháp an thần cưỡng bức. (38)
Các quân nhân cũng đã trình bày với văn phòng đặc trách thỉnh nguyện hồi hương của Mỹ: "Đây là một câu chuyện có thật. . . . Những hành vi này khiến cho chúng tôi lo sợ và hơn thế nữa, chúng tôi không còn tin tưởng và tôn trọng chính sách hòa bình và dân chủ mà Mỹ thường đem đi mở mang cho toàn thế giới" (39)
Không như Trụ nhấn mạnh lập trường chống Cộng, thì trong một bản văn bằng tiếng Anh nói về nền dân chủ, những quân nhân kia nói rõ họ phản bác và chẳng còn tin mấy điều đó. Nếu với quân đội Mỹ trước tháng Tư năm 1975 không đủ cho họ tỉnh ngộ thì ở lần trải nghiệm tiếp theo này, qua lối hành xử điên rồ của viên chức Mỹ ở Thái Lan, không còn nghi ngờ gì nữa đó là một sự trí trá. Tuy vậy, điều này không hẳn cốt thể hiện lập trường cộng sản hay thiên về vị thế của phe mới chiến thắng ở Việt Nam, và họ cũng khá tự chế không phô bày ra cái vẻ tự đồng hóa mình với chính phủ mới.
Cùng với các báo cáo về chuyện bắt cóc và hoàn cảnh bị ép buộc, những tường thuật cá nhân còn thể hiện vẻ lảng tránh, không thật của việc ra quyết định dựa trên những kinh nghiệm gia đình đơn lẻ và lập trường chính trị không nhất quán. Có một trường hợp tại Fort Chaffee, một người phụ nữ chính thức xin hồi hương cho mình cùng với đứa con một tuổi, trong khi chồng cô chọn ở lại Hoa Kỳ. Điều này dẫn đến một vụ tranh cãi về bảo lãnh về sau được phân định ở Arkansas (40) Trong chừng mực nào đó, yêu cầu ly hôn hoặc hồi hương vốn hòa quyện vào nhau đành để mở cho sự suy đoán; Tuy nhiên, thông điệp ngầm này đã gợi nên cho thấy sự phức tạp về một tình trạng chính trị “giới tính” của việc "đoàn tụ gia đình". Có khi nam và nữ cùng dứt khoát rời bỏ Việt Nam đấy, nhưng một khi tới Mỹ, họ lại xét lại quyết định của mình vì … nhớ nhà. (41) Trong một đơn cử hiện rõ nhất tính chính trị -trong nguồn tài liệu lưu trữ- có ít nhất một người đàn ông dường như đã trở lại vì những lý do ý thức hệ. Trong một chuyện nhỏ gợi cho người đọc nhiều liên tưởng từ hồi ký của Trụ, thì Châu Văn Hòa thổ lộ cho Trụ hay rằng Hòa đã đi theo những người tị nạn đến Hoa Kỳ theo lệnh của NLF -quân giải phóng. Hình như cốt để minh chứng cho việc người Mỹ sợ bị cộng sản xâm nhập là có thật, chứ Hòa rốt cuộc chỉ là một gián điệp đáng thương thôi. Mệt mỏi vì chờ đợi ở Fort Chaffee không nhận được lệnh hoặc nhiệm vụ gì, Hòa quyết định nộp đơn theo cùng hàng trăm người Việt khác xin về với gia đình (42)
Miền Nam Việt Nam sụp đổ nhanh chóng, những loạn lệnh quân sự sau cùng, và cảnh gia đình ly loạn đã khắc họa nên những câu chuyện di tản. Trừ trường hợp Trần Đình Trụ, còn lại thật khó diễn giải hết những nhạy cảm cá nhân hay cả một quá trình xung động chính trị trong lòng đất Việt, lúc này người hồi hương nhất quyết bác bỏ lập trường chống cộng hay quan điểm sơ sài về “cách mạng”. Thay vào đó họ tỏ rõ ý muốn về Việt Nam qua cách nhắc tới mái ấm gia đình. Quyết định cố thủ ở Guam và thỉnh nguyện được hồi hương của đoàn người đã chứng tỏ tính bất ngờ nằm ngoài kho ngữ vựng Chiến tranh Lạnh, điều mà cả 2 chính phủ Việt, Mỹ đã không sao lường nổi trước đây. Hoàn toàn biệt lệ với tính gắn bó và thống nhất thường thấy của một cộng đồng chính trị, điểm chung nơi những gì người hồi hương đã làm là nhầm lẫn, lo sợ, và giận giữ sốc nổi khi bị giữ lại ở đảo Guam.

*: Chú thích của người dịch: Pentathol còn có tên Natri thiopental là 1 loại dược phẩm thường dùng để gây mê (qua đường tĩnh mạch) những bệnh nhân tâm thần phân liệt (schizophrenia) hoặc kích động thần kinh (psychosis)



(còn tiếp Phần 4: "Chúng tôi không phải là tù binh chiến tranh")


Bài Liên Quan:

- Chuyện tàu Việt Nam Thương Tín - Thư Viện Phạm Văn Thành tổng hợp
- Đại sứ Martin nói về những ngày cuối tại Việt Nam - tài liệu của Larry Engelmann, Nguyễn Bá Trạc phỏng dịch



Tài liệu tham khảo liệt kê bởi tác giả

28. Review of US policy on Repatriates, July 23, 1975, RG 220 Records of Temporary Committees, Commissions, and Boards, Inter-Agency Task Force on Indochina Refugees, 1975–1976. Hereafter cited as RG 220, box 4, folder 9/6 Repatriation.
29. Tran Dinh Tru, Vietnam Thuong Tin, 60–76.
30. Ibid., 76–91.
31. Carroll, Operation New Life, 17.
32. Ronn Ronck, “Some Are Waiting to Return,” PDN, May 14, 1975.
33. David Binder, “US Wary of Refugees on Guam Who Seek Repatriation,” New York Times, September 4, 1975.
34. Susan Guffey, “‘I Didn’t Plan to Come Here,’ S. Viet Who Stole Airplane,” PDN, May 2, 1975; Chips Quinn, “Refugees Eager to Leave,” PDN, July 7, 1975; Dave Hendrick, “Refugees Waiting to Return Number More Than 1000 Here,” PDN, June 2, 1975.
35. “Some Viets Want to Go Back Even under Threat of Death,” PDN, June 25, 1975.
36. Testimony of 13 Repatriates, July 28, 1975, NARA, RG 59 Central Foreign Policy Files, 1973–1976, 1975STATE177651 (all RG 59 records accessed electronically through NARA Access to Archival Databases [AAD], accessed July 16, 2010).
37. “‘Criminal Act’ Possible in Drugging,” PDN, August 16, 1975; Jack Anderson, “Guam Refugee Drugging,” PDN, August 27, 1975.
38. Washington Post Story on Repatriation, September 13, 1975, RG 59, 1975STATE21891; “Refugees on Guam Await UN Help,” Washington Post, September 11, 1975.
39. Testimony of 13 Repatriates.
40. Message, June 7, 1975, MHI, VRPP, box 4.
41. Message, June 25, 1975, MHI, VRPP, box 4; June 10, 1975, Interviews with Repatriates on Eglin Air Force base, RG 220, box 4, folder 9/6 Repatriation.
42. Tran Dinh Tru, Vietnam Thuong Tin, 305–9.




Bản quyền (copyright) thuộc về Thư Viện Phạm Văn Thành (TV PVT) - ©TV PVT 2015


Văn bản nguyên văn:

“Give us a Ship”: The Vietnamese Repatriate Movement on Guam, 1975 - By Jana K. Lipman

Evacuations, Broken Families, and Kidnappings

As early as May 3, 1975, several Vietnamese Air Force personnel came forward and requested repatriation, and within weeks, the number climbed to more than two thousand repatriation inquiries.28 Who were these men and women who wanted to go back to Vietnam? Had they intended to leave Vietnam? Had they changed their minds midstream? Were they National Liberation Front (NLF) spies or CIA plants? In short, why would anyone do such a thing? Repatriates’ presence on Guam spoke to the chaos and overwhelming speed of events as the North Vietnamese advanced on Saigon. Repatriates expressed a sense of anger and panic about their lack of control and the circuitous routes that led them to Guam. Behind their formal statements, repatriates’ reasons for return were multiple, including family reunification, professed identity with land and nation, and occasionally even political loyalties to the new government. This range of self-presentation underscored the contingent moment, revealing the fears of men and women who were making a final rupture with their past and, of course, did not know the future.

In the singular Vietnamese repatriate memoir I located, Vietnam Thuong Tin Con Tau Dinh Menh, Tran Dinh Tru explained his decision making through the language of family reunification. Tru was born in northern Vietnam to a well-to-do Catholic family that fled to southern Vietnam after 1954. A devout Catholic and staunch anticommunist, Tru was forty years old and a lieutenant colonel in the RVN Navy in 1975. As the North Vietnamese Army advanced on Saigon, Tru prepared for his wife and family to escape, and he arranged for a ship to pick them up in Nam Can south of Saigon. He himself was ordered on a warship to help with the evacuation. Despite his best efforts, the captain he had solicited to rescue his family lied to him and never went ashore to look for his family. Tru arrived in Guam alone and in despair.29 Even though Tru believed he would have had a relatively easy adjustment in the United States because of his proficient English and experience with the U.S. military, he could not fathom leaving his family under communist rule. Instead, he decided to return: “I was ready to accept everything even imprisonment or death. Then if I didn’t die but was only jailed for a few years, upon my release I could still find a way to take my family out of the country. . . . At all costs, I would take my family out of Vietnam.” His friends and family tried to persuade him to go on to the United States, yet “nothing could sway my determination.”30 On account of his experience and his high rank, Tru became a leader among the repatriate community. In his searing memoir, his narration of military masculinity was intimately entwined with reuniting and saving his family and wife from communism. Written decades after the fact, he explained his unorthodox decision to return to communist-controlled Vietnam as an anticommunist action.

Like Tran Dinh Tru, approximately 80 percent of the repatriates were South Vietnamese military personnel, but most of them belonged to the military’s lowest echelons.31 The repatriates were overwhelmingly single men. Younger by a generation and most likely drafted in the war’s last years, these men did not echo Tru’s anticommunist politics or frame their choice for repatriation in an ideological idiom. As the UNHCR representative in Guam explained, “[They] aren’t concerned about the political change in their country. All they want to do is to get back to their families who are still in South Vietnam. Most can’t believe they’re really on Guam.”32 Julia Taft, the head of the Interagency Task Force, concurred. “They are almost all family reunion cases,” she explained. Taft also admitted that lower-level military personnel may have had little choice in their “evacuation.” She continued, “Some of them—air force mechanics and ships’ engineers—were forced to leave by superiors.”33 Many of these men had never intended to leave Vietnam permanently, and they recounted their journeys to Guam as plagued by misfortune, misinformation, and even kidnapping.

Repeatedly, repatriates who were ARVN pilots and sailors stated they had left South Vietnam in the heat of battle without realizing the finality of their actions. For example, when the North Vietnamese bombing began over Tan Son Nhut Airport, one pilot flew under orders to the U-Tapao Air Force Base in Thailand. He noted that “it was as much to save the aircraft from destruction as to help the people aboard.” He himself had not intended to evacuate: “Living forever in a foreign country and accepting another nationality is not my choice.”34 In a similar vein, a young sailor recounted, “I had no intention of going to the United States, but after I was aboard the ship, I was told we were headed for Subic Bay in the Philippines, and would not be returning to Vietnam.” He added that his parents, brothers, and sisters were in Vietnam, and that he wanted to return.35 This sense of displacement, and the remarkable lack of choice, is a recurring motif throughout the documents and Guamanian press. Focused more on family than politics, these young men presented themselves as alienated from both the journey that brought them to Guam and their current environment in the repatriate camp.

In the most chilling account, thirteen Vietnamese men charged the U.S. military with drugging and kidnapping them. Echoing the pilot’s story above, these men repeated how dozens of ARVN personnel stationed at Tan Son Nhut Airport “were so afraid that we took immediate airlift to U-Tapao (Thailand).” On arrival, their story took a darker turn. At least sixty-five men requested to return to Vietnam. In response, U.S. and Thai troops threatened to send them to jail in Thailand. At this point, fifty-two of the holdouts agreed to go to Guam, while the remaining thirteen held steadfast, deciding “once and for all not to go [to Guam] and being killed or having a chance to go back to our country.”36 A U.S. military officer responded to this defiance by sedating these men with sodium pentathol and thorazine, and then loading them unconscious on a plane. When the men awoke in Guam’s Tent City, they were not only psychologically disoriented but physically dizzy and in pain. Several waited days before going for medical help, as they did not trust the U.S. doctors, and the doctors, in turn, did not believe the men’s claims until an examination of their legs, which were covered with puncture wounds and bruises.37 On investigation, the United States admitted a U.S. officer’s responsibility for the forced sedation.38 These men cast their lots with the repatriates and petitioned the U.S. officials: “This is a true story. . . . These acts made us very concerned and frighten[ed] and moreover we no longer trust and respect the American Peace and Democracy Policy that they expand throughout the world.”39 Unlike Tru, who emphasized his anticommunism, these men expressed their betrayal and lack of faith in the American discourse of democracy. If they had not been disillusioned with the U.S. military before April 1975, their subsequent experiences at the hands of frantic U.S. officers in Thailand certainly did the trick. Still, this did not directly translate into a communist or revolutionary position, and they too publicly refrained from identifying themselves with the new government.

Along with these accounts of kidnapping and forced circumstances, indi-vidual accounts revealed elusive examples of decision making based on singular family experiences and divided political loyalties. In one case at Fort Chaffee, a woman applied for repatriation for herself and her one-year-old child, while her husband opted to remain in the United States. This led to a custody dispute, which had to be resolved in Arkansas.40 To what extent the desires for divorce or repatriation were intertwined was left open for speculation; however, this internal message suggested the complexity and gendered politics of “family reunification.” Other men and women fully intended to leave Vietnam, but once stateside, rethought their decisions because of homesickness.41 In the most overtly political example in the archives, at least one man seems to have returned for ideological reasons. In an evocative anecdote from Tru’s memoir, Chau Van Hoa confided in Tru that he had followed the refugees to the United States on the orders of the NLF. Seeming to justify American fears of possible communist infiltration, Hoa was ultimately a poor spy. Tired of waiting at Fort Chaffee with no orders or mission, he decided to return to his family and applied for repatriation along with hundreds of other Vietnamese.42
The rapidity of South Vietnam’s collapse, the frantic nature of final military orders, and the chaotic separation of families defined the stories of evacuation. Other than Tran Dinh Tru, it is hard to account for their individual sensibilities or political histories within Vietnam, yet repatriates consistently rejected a simplistic revolutionary or anticommunist stance. Instead repatriates expressed their desire to return to Vietnam in the idiom of family and home. Their decisions to remain in Guam and petition for repatriation attested to a political contingency outside the Cold War vocabulary, which the U.S. and Vietnamese governments had not anticipated. Far from a cohesive or unified political community, what repatriates had in common was confusion, apprehension, and soon anger about their detention in Guam.

[From page 9 to page 12]

(continue...)
-

0 nhận xét:

Post a Comment