Monday, March 30, 2015

Chuyện tàu Việt Nam Thương Tín 2 - Phần 2

"'Give Us A Ship': The Vietnamese Repatriate Movement on Guam, 1975" by Jana K. Lipman - Tạp Chí American Quarterly Volume 64, Issue 1 (số ra tháng 3 năm 2012)

(tiếp theo Phần 1)

Nguyên tác "'Give Us A Ship': The Vietnamese Repatriate Movement on Guam, 1975"

"‘Hãy để chúng tôi về’: Chuyện những người Việt hồi hương từ đảo Guam, năm 1975"
Lê Tùng Châu dịch

từ trang 5 - trang 8

Trại tị nạn trên đảo Guam

Trong tháng 4 năm 1975 người tị nạn Việt Nam không đi du lịch trực tiếp bằng đường biển hay đường hàng không từ Sài Gòn hoặc Thái Bình Dương đến lục địa Hoa Kỳ. Chính phủ Mỹ đã giữ 111.919 người Việt-Nam tại Guam trước khi cho phép họ nhập vào lục địa Hoa Kỳ hoặc Hawai'i. (14) điều vốn thường bị che đậy trong các sử liệu phổ thông.
Độ một vài tuần, lượng người tị nạn tăng hơn gấp đôi dân số địa phương Guam, nơi vốn chỉ chưa tới 100.000 cư dân vào năm 1975 (15)
Đối với Guam thì cuộc di cư của người Việt chỉ có thể được mô tả là khổng lồ. Thống đốc đảo Guam ông Ricardo (Ricky) Bordallo công khai hỗ trợ các chiến dịch người tị nạn Việt, và bất chấp sự phản đối của một số cư dân địa phương, máy bay quân sự và tàu chiến Mỹ bắt đầu hạ cánh xuống Guam mang theo người tị nạn vào cuối tháng tư năm 1975.
Bình luận về quyền tự trị tối thiểu của Guam, Thượng nghị sĩ Carl Gutierrez ghi nhận, "Tại sao chúng ta còn phải tranh cãi về điều này? Tất cả đã được chính phủ dàn xếp và chúng ta phải thực thi tốt nhất có thể" (16)
Quân đội xây dựng một vòng đai tự nhiên đánh dấu bằng dây thép gai, hàng rào và canh gác cẩn mật. Những người tị nạn Việt Nam không được phép rời khỏi trại, cũng như người bản xứ nếu không phận sự cũng không được phép vào trại.
Dù cuộc chiến Việt Nam đã qua rồi, thực tế đế quốc Mỹ lại phơi bày rõ hơn trong sử ký và địa lý của đảo Guam. Vị thế đảo và thuộc địa của Guam được vận dụng làm khu vực đệm giữa Việt Nam và Hoa Kỳ, nơi người hồi hương bỗng chiếm chỗ với tình trạng pháp lý không rõ ràng và quân đội Mỹ bỗng hùng hậu có mặt.
Bị Tây Ban Nha chiếm hữu từ năm 1565, rồi trở thành lãnh thổ của Mỹ theo Hiệp Ước Paris 1898, và khá giống trường hợp Puerto Rico, Guam chưa từng trải qua nền chính trị độc lập đương đại. Trong vòng kiểm soát tuyệt đối của quân đội Mỹ từ năm 1898 cho tới năm 1950 (tránh được hàng chục năm chiếm đóng của Nhật Bản trong Đệ Nhị Thế Chiến), rồi Hải quân Mỹ đã làm chủ và kiểm soát ngót nửa thế kỷ, nền móng tổ chức và cấu trúc thể chế của Guam dần được chuyển hóa và quân sự hóa từ bối cảnh xã hội đến văn hóa của các cộng đồng bản địa Chamorro tại đây. Với đạo luật Organic năm 1950, chính phủ Hoa Kỳ đã chuyển giao quyền lực lại cho Bộ Nội Vụ. Nhưng ngay cả khi quyền hành đã chuyển về dân sự, quân đội Mỹ vẫn còn tiếp tục kiểm soát hơn 36 phần trăm lãnh thổ của Guam. (17) Đạo luật Organic công nhận người đảo Guam là công dân Hoa Kỳ, dù Guam không có đại diện của Quốc Hội hay thủ tục biểu quyết của Tổng Thống, hay Hiến Pháp bảo hộ đầy đủ. Trên thực tế, dân Guamanians không đi bầu trực tiếp để chọn Thống đốc cho tới năm 1970 (18)
Bởi tỉ lệ công dân được tuyển mộ nhập ngũ cao nên Guam cũng chẳng vui gì với cái vinh dự có tỉ lệ thương vong cao hơn các bang khác vùng khác trong chiến tranh Việt Nam. Cơ cấu chính quyền của Guam được cân đối giữa cộng đồng bản địa tượng trưng kém năng lực và cộng đồng địa phương, và phụ thuộc phần lớn vào chính phủ và quân đội Hoa Kỳ.
Năm 1975, quân đội Mỹ kết hợp các căn cứ quân sự với các phương tiện sẵn có của liên hợp công ty cho thuê để thành lập một quần thể 12 trại tị nạn trên đảo Guam. Mấy trại lớn nhất tọa lạc trong phần đất của quân đội Mỹ. Trên căn cứ không quân Andersen, mười tòa cao ốc đã được lên lịch phá hủy mau lẹ, được dọn sạch và tân trang lại, và Orote Point, vốn là một phi trường thời Thế chiến II, đã trở thành bàn đạp cho trung tâm "Tent City." Thêm vào nữa là một số cơ sở quân sự nhỏ hơn, các công ty tư nhân như Công ty xây dựng Black, J & G, Công ty Nạo vét Hawaii, và Tokyu Hotel cũng trở thành trại tị nạn tạm thời (19)
Trớ trêu hơn cả là việc Seabees đã biến 14 tòa cao ốc tại Camp Asan thành một trại tạm cư cho người tị nạn Việt Nam trên cùng chính cái nơi đã được sử dụng để bỏ tù những kháng chiến quân Phi Luật Tân thời chiến tranh Mỹ-Phi Luật Tân (20)
Ngôn từ mô tả sự gia tăng mau lẹ các trại tị nạn trên đảo Guam cũng thiếu xác định, cả chữ “tị nạn” và “trại tạm cư” đều là những ý niệm vừa mới ùa tới đây cùng với một hành trang lịch sử nặng nề. Trong nhiều văn bản chính thức đề cập đến các trại này cũng dùng cách nói uyển ngữ khi gọi đó là những "trung tâm tiếp nhận," có lẽ là để tránh cái tình trạng “giam giữ người” ngoài ý muốn (21)
Thượng nghị sĩ Edward Kennedy thậm chí ghi nhận rằng một chiến dịch do quân đội đảm đương lại mang những cái tên không hay như "Operation New Life," trong đó có “một tập ngữ khó chịu vì gợi lên cái tên cũ 'New Life Hamlets' hoặc 'ấp chiến lược' của những năm ông Diệm nắm quyền” (22)
Việc bố trí nhân viên quân sự và giăng dây kẽm gai sang một bên, có lẽ chính phủ Mỹ muốn phân biệt các trại tạm cư ấy với quần thể các trại tị nạn khác được thả lỏng. Như một trong phát ngôn nhân của quân đội giải thích, dây thép gai không phải là "giam người mà để ngăn người nào muốn bỏ ra khỏi đó". Thoạt tiên, quân đội dùng chữ của người Việt “tản cư” rồi chữ “tị nạn” cũng được dùng dần sau đó. Có lần một nam quân nhân binh nhì nói nhát gừng: "Tôi biết họ là người tản cư mà. . . . Tôi biết thế vì vị Tướng đã nói thế." (23)
Dùng chữ tản cư không những thiếu xúc cảm và lòng trắc ẩn (mà chữ tị nạn vốn đã mang ý nghĩa bao hàm) mà còn tước mất của họ quyền được hưởng những quyền lợi từ trách vụ quốc gia và quốc tế bởi chẳng có công ước quốc tế nào về người tản cư cả. Trong khi báo chí, viên chức quân sự, thậm chí nơi các báo cáo chính thức người ta đã sớm vô tình dùng chữ tản cư thay cho chữ tị nạn vì thế chữ tị nạn dường như chẳng còn được dùng trong cách nói chung, sự thể ấy như nhắc nhở rằng những người Việt hiện không phải là người tị nạn hợp lệ theo luật pháp Hoa Kỳ. Thay vào đó, các ngành của hành pháp lại đã thừa nhận người Việt nhập cảnh vào Hoa Kỳ có quy chế “tạm dung” một phát minh về ngôn ngữ trong Đạo luật 1952 McCarran-Walter, trong đó cho phép "tạm nhập" người nước ngoài không thuộc phạm vi luật di trú Hoa Kỳ (23)
Mặc dù có vài vặn vẹo về ngữ học và pháp lý, hầu hết các văn bản nhà nước và phi nhà nước hầu như nhắc đến người Việt Nam là "người tị nạn" và các căn cứ quân sự là "trại tị nạn"
Một điểm son mà quân đội đã ghi được trong suốt chiến dịch này là đã chớp thời cơ tranh thắng được cảm tình công luận và giúp hóa giải hình ảnh thất bại quân sự của Mỹ ở Việt Nam. Một viên chức quân sự đã phân giải rằng chủ đích của chiến dịch là để "bảo tồn hình ảnh đẹp cho quân đội", và trong một chừng mực nhất định quân đội đã làm tròn trọng trách một cách "chuyên nghiệp, tận tâm, và nhân đạo" (25)
Do vậy, dù bỗng nhiên bị đứng ngoài cuộc chiến tranh Việt Nam –vốn là nguyên nhân tiên khởi tạo ra cuộc khủng hoảng người tị nạn- quân đội đã tái xác định giá trị của chính mình khi chứng tỏ một cách đẹp mắt vài trò không thể thiếu như là một cánh tay đắc lực của chính phủ vào những giờ phút cấp bách.

Trại Orote Point nơi dung chứa người hồi hương Việt Nam trong suốt cuộc khủng hoảng người tị nạn. nguồn ảnh: Cục Lưu trữ quốc gia Hoa Kỳ

Tuy vậy những viên chức Hoa Kỳ ở Guam hầu như không thể theo kịp với các dịch vụ hậu cần; họ phải đối mặt với những khó khăn về máy tính còn bỡ ngỡ lúc ấy, thủ tục lấy chi tiết nhân thân để cấp số căn cước, và thậm chí làm sao liệt kê hồ sơ với tên của người Việt. Qua hơn chục năm tham chiến ở Việt Nam mà chính phủ Mỹ vẫn còn lúng túng trước một thực tế về cách ghi tên Việt: họ thì viết trước còn tên lại viết sau (26)
Đa số người tị nạn Việt trải qua chưa tới hai tuần trên Guam, cũng có một số khác phải chờ như thế tới ba tháng. Trong thời gian lưu trú họ cũng phải qua các thủ tục hành chánh, kiểm tra y tế rồi sau đó được chuyển vào đất liền, hoặc được một người đỡ đầu đón hoặc nhập vào trại tị nạn liên bang như Fort Chaffee, Camp Pendleton, Fort Indiantown Gap, hoặc Air Force Eglin. Chuyến bay cuối cùng chở người tị nạn rời Guam đến Hiệp chủng Quốc là vào Tháng Tám 26, 1975 (27)
Tuy nhiên, trong khi hiện trạng cứu tế người tị nạn đang suông sẻ và lạc quan thì vào lúc cao điểm nhất bỗng xảy ra một việc gây rối ren đó là áng chừng 2000 người tị nạn lại cương quyết đòi trở về lại Việt Nam. Họ nói dù đang ở trong lãnh thổ Hoa Kỳ nhưng họ cho rằng, ở Guam chưa hẳn là đã ở Hoa Kỳ. Họ sớm nhận ra tình trạng thuộc địa cũng như hiện trạng đang còn trong thời kỳ chuyển tiếp của Guam có thể có ích cho họ. Viện cớ đảo Guam chỉ là 1 di sản thuộc địa của đế quốc Mỹ, không hẳn thuộc Mỹ cũng không hẳn ngoài lãnh địa Hoa Kỳ, người hồi hương Việt cố thủ trên phần đất của họ trên đảo.


(còn tiếp Phần 3: Di cư, gia đình tan vỡ, và bắt cóc)


Bài Liên Quan: Chuyện tàu Việt Nam Thương Tín - Thư Viện Phạm Văn Thành tổng hợp



Tài liệu tham khảo liệt kê bởi tác giả

14. K. J. Carroll, Operation New Life, After Action Report, Guam, 1975.
15. U.S. Department of Health, Education, and Welfare, Vital Statistics of the United States, 1975, http:// www.cdc.gov/nchs/data/statab/mort75_2a_ta.pdf (accessed July 21, 2010).
16. Leanne McLaughlin, “Legislature Nixes Funds,” Pacific Daily News (PDN), April 24, 1975.
17. Robert F. Rogers, Destiny’s Landfall (Honolulu: University of Hawai‘i Press), 230.
18. In contrast, the United States permitted direct elections for governor of Puerto Rico beginning in 1948. Guam also gained a nonvoting delegate in Congress in 1972.
19. History of Pacific Command Support to Operation New Life, 1 April–1 November 1975, NARA RG 319, box 3; “Where They Are,” PDN, April 28, 1975. In addition, the United States established refugee camps at U.S. military bases in Thailand, the Philippines, the Marianas, and Wake Island.
20. Rogers, Destiny’s Island, 252; Benedict Anderson, Under Three Flags: Anarchism and the Anti-Colonial Imagination (London: Verso, 2005), 205, 224.
21. Comptroller General Report to the Congress, “US Provides Safe Haven for Indochinese Refugees,” June 16, 1975; and Interagency Task Force for Indochinese Refugees Report to the Congress, September 15, 1975, Military History Institute (MHI), Vietnamese Refugee Project Papers (VRPP), box 14.
22. Senator Kennedy Releases Report on President’s Program to Resettle Refugees from Cambodia and South Vietnam, June 9, 1975, p. 17, MHI, VRPP, box 14.
23. Susan Guffey, “Evacuee Flood Flows On,” PDN, April 25, 1975.
24. Gil Loescher and John A. Scanlan, Calculated Kindness: Refugees and America’s Half-Open Door, 1945 to the Present (New York: Free Press, 1986); Carl Bon Tempo, Americans at the Gate: The United States and Refugees during the Cold War (Princeton, N.J.: Princeton University Press, 2008); and Stephen Porter, “Defining Public Responsibility in a Global Age: Refugees, NGOs, and the American States” (PhD diss., University of Chicago, 2009).
25. Message, May 5, 1975, Folder—Incoming Message Reference Files 3–4 May 1975, MHI, VRPP, box 7; Message November 7, 1975, File Guam 1975 (228-01), MHI, VRPP, box 6; and Sahara, “Opera-tion New Life/Arrivals.”
26. Carroll, Operation New Life, 32–35.
27. Ibid., iii.




Bản quyền (copyright) thuộc về Thư Viện Phạm Văn Thành (TV PVT) - ©TV PVT 2015


Văn bản nguyên văn:

“Give us a Ship”: The Vietnamese Repatriate Movement on Guam, 1975 - By Jana K. Lipman

Refugee Camps on Guam

In April 1975 Vietnamese refugees did not travel by ship or plane directly from Saigon or the Pacific to the mainland United States. Often glossed over in popular and historical accounts, the U.S. government held 111,919 Vietnamese in Guam before authorizing their entrance into the continental United States or Hawai‘i.14 In a matter of weeks, the refugees more than doubled the Guamanian local population, which numbered just shy of 100,000 residents in 1975.15 For Guam, the Vietnamese exodus could only be described as massive. Guam governor Ricardo (Ricky) Bordallo openly supported the Vietnamese refugee operation, and despite some local objections, U.S. military planes and ships began landing on Guam with refugees at the end of April 1975. Commenting on Guam’s minimal autonomy, Guam senator Carl Gutierrez noted, “Why are we arguing about this? It’s all been settled by the U.S. government and we have to make the best of it.”16 The military constructed a physical environment marked by barbed wire, chain-link fences, and armed guards. The Vietnamese refugees were not allowed to leave the camps, nor were unauthorized Guamanians allowed into the camps.

Although the U.S. war in Vietnam was over, the reality of American empire was more than apparent in Guam’s geography and history. Guam’s colonial and island space served as a liminal zone between Vietnam and the United States, where repatriates possessed ambiguous legal status and the U.S. military loomed large. A Spanish possession since 1565, Guam became a U.S. territory under the 1898 Treaty of Paris, and much like Puerto Rico, it has not experienced modern political independence. Under absolute U.S. military control from 1898 through 1950 (save for the years of Japanese occupation during World War II), the U.S. Navy owned and controlled Guam for half a century, and its institutions and installations fundamentally transformed and militarized the environment and culture of the indigenous Chamorro communities. With the 1950 Organic Act, the U.S. government transferred power to the Department of the Interior. Even with this civilian handover, the U.S. military continued to control more than 36 percent of Guam’s territory.17 The Organic Act granted Guamanians U.S. citizenship, albeit without presidential voting rights, congressional representation, or full constitutional protections. In fact, Guamanians did not have direct elections for governor until 1970.18 Because of high rates of military enlistment, Guam also bore the distinction of having the highest per capita casualty rate of any state or territory in the war in Vietnam. Guam’s political apparatus balanced between poorly represented indigenous and local communities and extreme dependence on the U.S. government and military.

In 1975 the U.S. military established a constellation of twelve refugee camps on Guam through a combination of military bases and leased corporate facilities. The largest camps were located on U.S. military property. On Andersen Air Force Base, ten buildings that had been scheduled for demolition were quickly cleaned out and refurbished, and Orote Point, a former World War II airfield, became the central staging ground for “Tent City.” In addition to several smaller military facilities, private companies such as Black Construction, J&G Construction, the Hawaiian Dredging company, and the Tokyu Hotel became temporary refugee camps.19 Perhaps most hauntingly, the Seabees converted fourteen buildings at Camp Asan into a camp for Vietnamese refugees on the very same ground that had been used to jail Filipino insurrectionists during the U.S.-Philippine War.20
The language describing the proliferation of refugee camps on Guam could be elusive, as both the terms refugee and camp came with substantial historical baggage. Many official documents referred to the camps in euphemisms, calling them “reception centers,” presumably to avoid the undercurrent of involuntary confinement.21 Senator Edward Kennedy even noted the unfortunate connotations of the military operation’s official name, “Operation New Life,” which had “an uncomfortable ring with the old ‘New Life Hamlets’ or ‘strategic hamlets’ of the Diem years.”22 Barbed wire and military personnel aside, the U.S. government hoped to distinguish its camps from refugee camps at large. As one military spokesman explained, the barbed wire was “not to confine the people, but to keep [other] people out of there.” The word refugee was also loaded, and at first, the military made a point of calling the Vietnamese “evacuees.” As one enlisted man cracked, “I know they’re evacuees. . . . I know it because the general said it’s so.”23 Not only did evacuee lack the drama and compassion that refugee connoted, it also was bereft of international or national rights or obligations; there were no international conventions on evacuees. While newspapers, military personnel, and even official reports soon dropped evacuee for refugee seemingly out of simple common usage, the fact remained that the Vietnamese were not legally refugees according to U.S. law. Instead, the executive branch admitted Vietnamese into the United States as “parolees,” a linguistic invention in the 1952 McCarran-Walter Act, which allowed for “temporary admission” for foreigners who fell outside U.S. immigration law.24 Despite these linguistic and legal contortions, most of the state and nonstate documents almost universally referred to the Vietnamese as “refugees” and the military bases as “camps.”
The military’s goal throughout the operation was to seize a public relations “win” and counteract the images of U.S. military failure in Vietnam. As one military official explained, the goal was to “preserve a good army image,” and by most measures, the military succeeded in handling the mission with “professionalism, dedication, and humanitarianism.”25 Thus the military disconnected itself from the war in Vietnam that had created the refugee crisis in the first place, and rhetorically and materially redefined itself as an effective and life-affirming arm of the government. It soon became clear, however, that the U.S. personnel on Guam could barely keep up with the logistics; they faced basic difficulties with computers, providing individuals with ID numbers, and even mastering Vietnamese naming practices. After more than ten years of military fighting in Vietnam, the U.S. government was still flummoxed by the Vietnamese practice of surnames coming before given names.26 The majority of Vietnamese refugees spent less than two weeks on Guam, although some waited on Guam for up to three months. Their stays were met with bureaucracy, medical exams, and then transit to the mainland United States either with a sponsor or to a stateside refugee camp on Fort Chaffee, Camp Pendleton, Fort Indiantown Gap, or Eglin Air Force base. By August 26, 1975, the last flight of refugees departed from Guam to the United States.27

Yet complicating this efficient and “feel good” narrative, at its high point, as many as two thousand refugees remained unwavering in their determination to return to Vietnam. Although they were in U.S. territory, Vietnamese repatriates recognized that Guam was not quite the United States. They also soon realized that Guam’s colonial and liminal status might be of some value to them. Underscoring the legacies of empire, neither fully inside nor fully outside the United States, Vietnamese repatriates held their ground on Guam.

[From page 5 to page 8]

(continue...)
-

2 comments:

  1. Chuyện hay lắm Ad, cảm ơn Ad đã chia sẻ bài viết.
    ...............................................................
    Galile
    Chuyên bán máy nước nóng năng lượng mặt trời.
    Tel: 08. 66 851 451 – 0901 315 713
    Mail: dichvugalile@gmail.com
    Click xem chi tiết: Máy nước nóng năng lượng mặt trời ariston, sunpo giá rẻ hoặc May nuoc nong nang luong mat troi ariston, sunpo gia re

    ReplyDelete
  2. I remember that time we'll as a US Navy photographer on Guam. I also documented the sea trials for the Tong Tien 1, I couldn't help but feel the repatriate's were sailing back to a nightmare. Bob Cobble

    ReplyDelete