Friday, May 30, 2014

TRẠI NĂM THANH HÓA

11/1994

(như một tiếng chim trời
đến người nữ đồng dao Tạ Phong Tần)




Qua Thanh Hóa, đoàn xe dừng lại ở một ngã ba, một hướng ra bắc, một hướng vào nam và một hướng xiên về hướng tây. Không ăn không uống. Đàn người kín đáo quan sát chung quanh. Tu sĩ Chương và cựu trung tá Phạm đức Khâm có lẽ là hai người duy nhất có thể biết về địa hình này. Cả hai đều im lặng. Nguyễn Muôn hỏi một trung úy trẻ, người áp giải ngồi phía băng ghế trước, gần với lưng của Muôn.


- Đây là đâu vậy …cán bộ?

- Ngã ba voi.

Người trung úy đáp nhẹ vừa đủ cho Michel Muôn và mấy anh em nghe được. Tay trung úy này gốc Thanh Hóa, là người dễ chịu nhất trong đoàn áp giải.

Ba bốn chiếc xe như ba bốn con ngựa già đã mất hồn, đoàn sĩ quan cao cấp ngồi trong một chiếc xe dân sự màu đỏ, kính sậm màu nên không nhận diện đươc bên trong. Tiếng máy bộ đàm xè xè thật sốt ruột. Chừng 10 phút thì lục đục đoàn áp giải vào hết các xe. Chiếc xe jeep 44 quân đội chồm đầu lên đường dầu quắp volant bám về hướng tây.

Tôi kín đáo liếc nhanh mắt trên mặt Phạm đức Khâm. Mặt Khâm biến sắc, cục adam giật lên giật xuống giữa cổ họng, tôi biết nơi sẽ đến chắc chắn là Lý Bá Sơ Đầm Đùn hoặc Thanh Cẩm. Hai trại tù khét tiếng mà tôi đã được nghe nói đến, nằm phía tây của quốc lộ số 1 đoạn Thanh Hóa. Hy vọng của ông Khâm về chuyện sẽ ra Hà Nội, gần các cơ quan ngoai giao Hoa Kỳ đã nhất thời biến mất. Tôi im lặng, cố trấn tĩnh để không lộ ra bất kỳ sự bối rối nào. Mười người tù, không ai bảo ai, đều hiểu rằng, cùng với hướng xe lao về phía tây là đồng lúc, sự ngột ngạt sẽ dâng càng ngày càng cao trong cuộc đời tù sắp tới.

Xe chạy trên những quãng đường gập ghềnh, có lúc như tung cả đám tù lên đụng đầu với trần xe. Tiếng suốt cùm va đập vào chân ghế sắt nghe rất khó chịu. Chiều đã xuống hẳn, ánh dương quang đã hết le lói, xe xuyên màn đêm một dẫn trước hai theo sau, tù xa là xe thứ hai, như những con quái vật mắt long sòng sọc húc sâu vào màn đêm. Bốn sĩ quan áp giải trong xe súng dài tuốt trần, đạn đã gắp sẵn lên nòng súng, quay mũi súng chếch ra cửa xe. Không ai noí với ai một lời. Thật xa phía trước khung kính xe là một góc bầu trời đen thẫm, lấm chấm dăm ba vì sao xa vời vợi.

Xe dừng ở một đoạn đường dốc, lốc cốc chiếc áp giải thứ tư là chiếc xe dân sự màu đỏ chạy đến sau cùng, ống bô đã gãy nên âm thanh lốc cốc cồm cộp khua rổn rảng theo đà lăn của bánh xe. Xe đỏ dừng, tiếng lâu bầu của một ngưoì nào đó, chắc sếp lớn.

- Địt cụ nó, gẫy bố nó ống khói rồi, đường sá như cái con c. của ông!

Rồi đến tiếng to nhỏ phân công. Chiếc đỏ coi như bỏ cuộc chơi, sẽ quay về. . . Hà nội ngay. Hai chiếc còn lại tiếp tục áp tải tù xa. Có tiếng gọi rất to.

- Phà đâuu u u. . . ?

Phà! Cả đám tù giật mình, mắt cố dõi thật sâu vào màn đêm qua ô cửa kính. Không thấy gì có thể hình dung được là có bóng dáng phà ở đây cả! Mùi sông nước cũng không nhận ra được vì trong xe chỉ toàn một mùi mồ hôi của đám tù đã gần 20 tiếng bị cùm chết chân trên sàn xe.

Những tiếng hô gọi quát tháo làm náo động cả một không gian bao trùm tĩnh mịch. Cuối cùng năm sáu tiếng súng đã chát chúa cất lên! Tiếng”có đây”vội vã của một người nào đàn ông nào đó như từ …biên thùy vọng về, xen lẫn tiếng vỗ cánh của những con chim đêm hoảng loạn. Chừng 20 phút, tù xa lăn bánh qua hẳn đoạn cua, chúi đầu xuống thấp. Phía trước mặt sông loang loáng đen thẫm đã hiện ra. Từ giữa sông lừ lừ một tấm thảm mốc đen như bè tre đang cố trườn vào bờ! Tôi giật mình khi nhận ra một sợi dây như dây cáp đã được giăng từ bên bờ này sang bờ kia, phụ lực cho”con phà” sang song! Người tài xế dân sự ”giỏi nhất của Tuy Hòa” buột miệng cất lên”chu choa mệ ơi. .! ”.

Đàn tù im lặng, tránh nhìn vào mắt nhau. Tôi hiểu, ai cũng phải cố gắng trấn tĩnh để giữ lòng bình tĩnh trong lúc này. Với chiếc”phà” như vậy trong đêm không một ánh điện đèn và ba chiếc xe trèo lên lưng thì việc lật chìm là việc rất dễ diễn ra. Chìm xe chìm phà vơí tình trạng tay tù bị khóa còng 8 vào nhau, chân dính trong suốt cùm ba người một. Thật không còn cảnh nào bi thảm hơn! Tôi lại là đưá mang mạng thổ, rất dở về bơi lội dù thủa nhỏ đã cho chuồn chuồn cắn đến sưng cả rốn. Đã sém ba bốn lần chết đuối nên rất ngán thủy thần! ”Không lẽ số phận mình phải chết dưới nước với tay chân cùm xích thế này?”. Tôi khó khăn nuốt từng miếng nước bọt. Biết là yêu cầu mở khóa cùm là điều bất khả. Tôi nói vừa đủ mọị ngươì nghe sau khi Michel Muôn gọi yêu cầu mở cùm.

- Vô ích, không ai dám mở cùm cho chúng ta lúc này …

- Không chết được đâu mà lo. Trời còn có mắt, sao anh em có thể chết trong tư thế này được. Không xin xỏ gì hết!

Tiếng Quang cất lên, âm giọng của Quang trầm trầm như mang một sức mạnh vô hình. Trương van Lương nói theo.

- Phó thác hết cho thiên chúa. Có chết cũng là chết cho lẽ phải. Chẳng việc gì phải sợ!

Tôi lặng lẽ nhìn vào mắt Lương. Lương rất gầy, tuổi gần 60 mà như một ông lão đã gần 80. Nụ cười của Lương thật ngạo mạn ánh lên trong màn đêm chập chùng.

- Cầu nguyện đi, ai tin gì thì nguyện nấy. Sợ cũng không giải quyết được gì.

Tiếng tu sĩ Chương cất lên, âm giọng nhẹ nhàng bình thản đến lạ lùng. Tôi thấy cả Thiện Quang và Đăng cùng Lương nhấc còng đưa tay lên làm dấu thánh giá trên trán. Nước mắt tôi bỗng ứa ra. Đó là những người thân yêu nhất của tôi trong đời lao lý. Hành động tôn giáo họ vừa làm, là một hành động chờ đón cái chết thật lạnh lùng! . . . Hồng Vân, Pham Anh Dũng, Lê Hoàn Sơn, Michel Muôn đạo Phật, tất cả đều lặng lẽ khẽ cúi đầu. Phạm đức Khâm im lặng. Tôi cúi xuống, nâng chiếc còng, kéo cả tay Dũng lên gần mặt tôi để tự làm dấu thánh. Lòng tôi tràn ngập hình ảnh đứa con gái mà tôi đã rứt ruột từ biệt, một buổi sáng hai năm về trước, cùng tiếng khóc oe oe thơ dại. . .

Xe rùng mình gầm rú, chúi đầu xuống mé sông để lấy đà bám lên mép phà, chao qua vật lại đến 6, 7 phút mới trèo lên được hẳn chiếc”phà”. Tất cả sĩ quan áp giải đã xuống xe, lăm lăm mũi súng về bốn phía. Hai chiếc áp giải tiếp tục trèo lên và phà gỡ xích chuẩn bị…sang sông! Ngươì tài xế là người sau cùng rời xe để trong xe chỉ còn lại chúng tôi. Trước khi bước xuống xe, anh ta quay lại noí vơí chúng tôi, hai tay chắp lại xá xá :

_ Em là dân sự, không phải người nhà nước. Họ kêu em đi, không hề biết là phải đi thế này. Mấy anh …có gì … xin đừng bắt lỗi em. Cho em …vái sống mấy anh …

Giọng anh ta nghèn nghẹn và đây cũng là lần duy nhất chúng tôi được nghe anh nói một câu nói trọn vẹn vơí chúng tôi, âm giọng Bình Định không lẫn vào đâu được. Tu sĩ Mai đắc Chương cười lớn, bảo.

- Ôi dào, vẽ chuyện! Không có nguy hiểm gì đâu.

Khi ngươì tài xế đã bước xuống, cũng là lúc bàn tay mang còng vơí Lê Thiện Quang của tu sĩ Chương đưa lên vầng trán. Ông làm dấu thánh và tôi nghe rõ giọng ông thầm thì” Xin Mẹ giữ gìn anh em chúng con …”. Ôi, hình ảnh ấy, làm sao tôi có thể quên được trong quãng đời còn lại của mình.

Phà chòng chành chòng chành, tiếng máy nổ ì ạch. Đây là con sông gì tôi không biết! Sông Lam, sông Mã hay sông Chu? Phải chăng là con sông đã mang theo một bài hát huyền thoại ”Ông Lái Đò”. Một bài hát mà ngươì đời làm ra để ghi lại sự kiện những người tù bị đưa vào trại Đầm Đùn Lý Bá Sơ những năm 1950. Có đưa đi nhưng không bao giờ quay trở lại…

***

… Như một phép mầu nhiệm, đoàn xe sang sông an lành để cuộc hành trình vật vã lại tiếp tục. Xe lại điên cuồng cắm vào màn đêm cho đến khi một vùng ánh sáng chói lòa hiện ra. Tôi lầm bẩm.

- Đây là đâu?

- Chắc nhà thờ!

Lương đáp. Quang gắt lại ngay.

- Nhà thờ gì mà nhà thờ. Hai ba giờ sáng rồi còn gì? Nhà thờ nào để điện sáng lòa như thế?

- Trại Năm! Các anh sắp đến rồi.

Ngươì trung úy nói đủ cho chúng tôi nghe.

Trại 5! Đây là một cái tên tôi chưa từng nghe biết bao giờ.

Trại 5! Cũng y như cảm giác vài tiếng trước đây khi tôi nghe thấy tiếng gọi lớn của những sĩ quan khi gọi ”Phà ơi”. Từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Một con phà liêu xiêu như một tấm bè tre, như một con ma đói và một nhà tù như một ngôi giáo đường cổ kính âu châu. Ánh sáng vung vãi, tóe lên không gian hoang dã tĩnh mịch!

Xe vào khu trung tâm. Bốn dãy nhà ba tầng mái ngói đỏ tươi dưới ánh điện. Cổng vào bài trí như cổng các lâu đài âu châu. Sân lát đá bóng lưỡng. Cây cảnh cây kiểng bài trí thật đẹp mắt. Hồ thủy tạ lớn nước ra vào! ! Cảnh trí không khác gì cảnh thần tiên đối vơí đàn người tù vừa được tháo cùm mở còng tay trong không gian tĩnh mịch 3h sáng.

Ngồi bệt trên nền sân đá đâu chừng 30 phút thì 10 người được dẫn đi vòng vèo xuyên qua nhiều dãy nhà, thoát hẳn ra khỏi khu tường phân cách ”lâu đài“. Đàn tù đi xuyên qua một cái cổng thật lớn, trên phần thượng của cổng chính là một nhà lầu. Hai cổng phụ cách nhau khoảng 10 thước. Qua phần cổng lầu, qua một vườn hoa nhỏ là một sân chung hiện ra, chiều ngang chừng 150m chiều dài, sâu chùng 450 m, chung quanh là tường cao hai mét, phía sau các bức tường là những dãy nhà tù xây theo dạng hộp hình chữ nhật, mỗi nhà dài khoảng 60m. Tôi nhận ra, trong bóng đêm là ba bốn cây mít to chừng 1 vòng ôm ngay sát cổng ra vào, hàng mít được nối dài theo chiều dài của sân chung. Tôi lẩm bẩm: "Tuổi trại tù ít nhất phải trên 50 năm! Không lẽ đây là Đầm Đùn Lý Bá Sơ? Một trại tù mà bố mẹ tôi, anh chị tôi đôi khi nhắc đến vơí những cái lắc đầu lè lưỡi! Một trại tù đã được viết thành sách qua một hồi ký chất đầy sự tàn bạo và chết chóc ở những năm 1950?”. . .

10 người được dẫn vào ngay căn nhà lớn đầu tiên phía tay trái tính từ cổng đi vào. Xếp hàng trước một cửa được gọi là cửa buồng 1 b. 10 người tay cắp chiếu đứng chờ vào buồng. Tôi đứng sau cùng.

Quản giáo quản chế chạy lăng xăng. Ánh điện hàn xì chốc chốc lại toé lên những ánh sáng xanh rợn người bên phía nhà đối diện. ”Hàn gì giờ này?”. Tôi ngạc nhiên hỏi khẽ Lê thiện Quang. “Chắc làm gấp để kịp bàn giao công trình”. Quang đáp, không hề nghĩ đó đang là một căn nhà được hàn đúp các khung sắt, kiểu nhà nhốt cọp mà số phần 10 người tù miền Nam sẽ được đặc biệt chiếu cố.

Có tiếng khá trẻ, giọng Thái Bình cất lên trong buồng.

- Đm. thằng đứng sau cùng, nó vào lện cho nó một trận ngay cho tao.

Đăng quay lại nhìn tôi, nheo mắt cười cười. Quang noí ngay.

- Chấp đám con nít ranh ấy làm gì. Đừng nói gì cả, vào ngủ cái đã.

Cửa buồng mở. Từng người đi vào. Chỗ nằm mỗi người đã được vẽ tên sẵn, nằm chung một dãy vơí nhau. Tôi dù rất mệt nhưng biết là sẽ không yên nếu không làm một điều gì đó. Tôi vốn là nông dân miền đông nam bộ, bố mẹ là ngươì miền bắc di cư, bương trải vào Sài gòn vừa kiếm ăn, vừa hoạt động chống chính quyền cộng sản từ khi 17, 18 tuổi đầu, sống chung vơí đủ mọi thứ đàn anh đàn em…nên rất ghét ba cái trò đầu gấu đầu hươu nhà tù. Tôi đứng ra giữa nhà, nói vừa đủ cho đám hình sự nghe.

- Nãy đứa nào nói câu “thằng đứng sau vào là đập chết ngay”?

Im lặng. Nhiều cái đầu nằm trên tầng trên thò đầu khỏi chiếu nhìn về tôi. Tôi nói vừa đủ nghe.

- Muốn gì thì giải quyết ngay đi. Đm, tao còn phải đi ngủ.

Bên ngoài có tiếng súng lên đạn loạch xoạch. Tôi nhìn ra các ô cửa số, thấy hai bên tường đều có bóng dáng công an cầm súng dài. Một ngươì tù khoảng 30 tuổi tự xưng là nhà trưởng đến gần tôi, bảo chỉ là chuyện hiểu lầm, bảo tôi nên đi nghỉ. Tôi thấy cũng không nên làm ồn ào, vì đám hình sự có thể nghĩ là tôi ỷ có mặt quản tù nên dựa thế quản tù đòi làm căng. . .

Leo lên sàn xi măng nằm, vừa đặt lưng thì Dũng la lên.

- Thành ơi, dép anh đâu mất rồi. Thành có lấy không?

Tôi nói lớn lên ngay.

- Đù mạ, đôi dép ấy trong hai phút mà không trở lại chỗ này là không xong đâu đó. Đừng trách tụi này man rợ.

Người nhà trưởng chạy qua chạy lại một chút rồi la lên khi thấy một tên tù đang tỉnh khô mang đôi dép của ông Dũng. Cả tôi, Quang, Đăng, Dũng, Lương đều bật dậy bước ra giữa nhà. Chúng tôi biết, nếu không làm cứng ngay từ ban đầu, sẽ rất khó sống với đám hình sự đã mất gần hết nhân tánh này.
Bối cảnh nhà tù, tù cũ hiếp tù mới là chuyện thường tình, nhất là đối với cánh hình sự. Chúng tôi có nhiều kinh nghiệm vơí tù hình sự miền nam nhưng đây là lần đầu tiên tiếp cận vơí tù hình sự miền bắc nên trong đầu tôi, ý tưởng về một trận thư hùng sống mái bắt buộc đã phải hiện hình, dù tôi vừa từ buồng cùm a20, bốc ra và nhét lên xe cùm đi bắc ngay, cơ địa sức lực chẳng còn bao nhiêu ngoài sự trông nhờ vào những thế võ bí hiểm của một ông thày người Nùng dạy bảo năm xưa…

Đôi dép được hoàn trả, nhưng nhà trưởng dọn hết các đôi dép của 10 người mới vào, xếp lên phía. . . đầu nằm của từng người. Vừa xếp vừa nói.

- Ở đây, thường là không dược mang dép. Dép của các anh các chú sẽ mất ngay nếu để dưói chân chỗ nằm. Họ lấy dép chỉ để nấu chén chè vì họ không được quyền mang dép …

Tôi bật ngồi dậy, nhìn lên các chỗ ngủ của tù hình sự. Thật nao lòng. Tháng 11 trơì đã bắt đầu giá, nhưng hầu như chỉ có ba bốn người có chăn đắp, tất tần tật còn lại là quấn chiếu ngủ. Ba ngươì hay hai người quấn hai chiếc chiếu đơn. Tôi hỏi tên nhà trưởng.

- Ở đây trại không phát chăn cho tù à?
- Làm gì có!

Tên tù nhà trưởng vừa nói vừa cười sặc lên. Tôi biết ngay là nhà tù này đã chặt bớt phần tiêu chuẩn của tù. Biết là quản giáo quản chế đứng bên ngoài, tôi nói hơi lớn giọng để bên ngoài có thể nghe.

- Tù có tiêu chuẩn của tù. Chúng ta phải lao động cật lực thì quyền lợi, qui chế của tù cũng phải được áp dụng nghiêm chỉnh. Ta không đòi thì hệ thống giám thị trại tù sẽ đút túi riêng những phần ấy. Đây là quyền lợi chính đáng. Các anh phải đòi.

Nguyễn văn Trung, án 20 năm, 1 tay cự phách của A20 và trại 5 Đầm Đùn Thanh Hóa

Tất cả không ai nói lại câu nào. Không khí sợ cán bộ, sợ giám thị hầu như bao trùm. Tôi nhận ra sự khí phách của đám tù hình sự phía bắc thua đám tù hình sự phía nam rất nhiều. Bỗng có một tiếng nói từ trên tầng trên vọng xuống.

- Mấy bác từ đâu đến mà nghe giọng khác thế?
- Mỹ, Pháp, Canada!

Đăng đáp.

- Thế là quá đà rồi!

Một tiếng khác cất lên.
- Này còn cha quá đà nữa. Quá đà kia mơí đến Thái Lan thôi. Qúa đà này đến tận Pháp Mỹ rồi …

Một cảm giác rờn rợn chạy dọc theo sống lưng tôi, không lẽ nơi thâm sơn cùng cốc này lại có anh em mình từ Thái Lan về? Tôi hỏi tên nhà trưởng.

- Quá đà là gì vậy?
- Là quá đi ấy. Là, là …quá đà, quá quắt ấy. . .

Cậu ta giải thích ấm ớ, tôi không hiểu hết nhưng đã lờ mờ đoán ra. Trên tầng trên lại có tiếng hỏi.

- Vậy có biết Trần quang Đô không?

Tôi như bị điện giật. Vì Đô chính là bí danh của Đào Bá Kế, một thiếu uý Dù đã vào khu chiến Thái Lan với tướng Hoàng Cơ Minh khoảng 1985 và xâm nhập VN năm 1989. Hiện được coi như mất tích. Chính tổ chức Hoàng cơ Minh cũng không biết Đào Bá Kế ở đâu nên có nhờ Jimmy Trần Mạnh Quỳnh trong những lần về VN tìm cách kiếm thông tin, điều này chính Lê Thiện Quang đã xác nhận vơí tôi từ khi còn ở A20. Tôi nhìn Lê Thiện Quang, lúc ấy dù đã nằm nhưng vẫn quan sát tôi nói gì làm gì. Quang nhổm dậy, hỏi tôi.
- Có gì lạ phải không?

Tôi đáp nhẹ.
- Đào Bá Kế.

Mắt Quang sáng rực lên. Tôi hiểu tình cảm của Quang dành cho Jimmy Quỳnh. Cả hai đều là những sĩ quan ưu tú của Sư đoàn 1, sau đó sang Nhảy Dù và Quang sang Biệt Kích Dù. Ngoài tình cảm vơí Jimmy, Quang còn mang đậm tình đồng đội, vì Đào Bá Kế cũng là Dù. Tôi hỏi với lên trên.

- Biết Đô à?
- Trần quang Đô bên nhà 1 A kìa, bên tường nhà Mét kia kìa …

Ra là tôi đang cách Đào Bá Kế chỉ có một bức tường, và hồi nãy khi vào nhà này, tôi đã đi ngang qua chỗ nằm của anh em tôi về từ Thái.

= = =




0 nhận xét:

Post a Comment