Thursday, May 22, 2014

Trại 5 - Buồng Tù Lập Dị

May 25, 2013

Trại Năm Thanh Hóa - Buồng tù lập dị
11. 1994
(Một tiếng dồng dao đến Tạ Phong Tần)



Vừa chợp mắt được một chút thì tiếng kẻng báo thức chan chát như đục vào lỗ tai. Buồng tù lật bật như một đàn gà con mất mẹ. Người chạy vào nhà mét (nhà cầu/ vệ sinh) người chạy ra. Tất cả đều hối hả tất bật, nước bèm nhẹp từ trong nhà mét tha bôi theo những bàn chân không chạy qua chạy lại trước chỗ đám tù chính trị đang còn ngái ngủ kẻ ngồi người nằm.
Chỉ năm, mười phút sau, tiếng song sắt kéo chặn các ô cửa ngang nhà 1a được bật ra, thanh thép dài hai mét rưỡi được kéo tuồn lọt ra khỏi các khoen thép tròn bắt dính vào hai bên tường bê tông, âm thanh quen thuộc của tất cả các nhà tù cọng sản, nó vừa làm ghê răng, vừa có một cảm giác rờn rợn khủng bố khó tả. Tiếng những bước chạy tất tưởi của tù từ trong nhà xếp hàng hai đi nhanh qua cửa điểm danh. Tôi nghe tiếng ai đó bên nhà 1a.


- Đ…ịt mẹ đứa nào còn nằm kia?

- Báo cáo ông, thằng … bị ốm.

Một tiếng đáp lại, chắc là của nhà trưởng.

-Ốm cũng phải ra, chết hay sao mà nằm vạ vật.

Im lặng một lúc, chắc là tên tù bệnh đang lủi nhủi đi ra.

- Đi được như vậy mà còn nằm ì. Đm ông táng cho mày chết bi giờ …

Tiếng ai đó nhỏ nhẹ hơn.

- Thôi, không nói nữa …

Như vậy, tiếng văng tục chắc chắn không phải của mấy người cán bộ trực trại, mà là của đám tù thi đua, đám này thì trại nào cũng phải chạy mặt! Tôi cố nhoài người để nhìn ra ngoài cửa sổ xem có thấy được mặt mũi của tên tù thi đua ấy không, đúng vừa lúc nhìn thấy một dáng người to lớn mặc đồ bộ đội áo ngoài quần, giày vải dân sự kiểu giày bata của miền nam. Mặt mày tên tù thi đua này lại rất …đàng hoàng. Sạch sẽ và hoàn toàn không lộ vẻ gì là người ác ôn. Quái! chuyện này lạ đây.

Tiếng hô điểm danh từng người chấm dứt bởi chữ « 76! Hớt » nghe rất to, rất dứt khoát. Tôi nghe như âm thanh của một người bạn nào đó rất thân thiết từ miền nam xa xôi. Tôi cảm thấy như đó cũng là tiếng chào gởi đến anh em tôi! Thôi đúng rồi. Miền nam ơi! Anh em ơi! Bao nhiêu thằng đang vất vưởng ở đây! Đào Bá Kế! Hoàng cơ Minh …và bao nhiêu con người đã chết!



¤


Sang đến buồng chúng tôi, trước khi tiếng thanh thép dài chốt cửa rít lên, khuôn mặt người mặc quần áo bộ đội đã cúi sát vào ô cửa sổ gần nhóm tôi đang ngồi, nói vừa đủ cho chúng tôi nghe.

- Các anh ở yên vị trí, không phải ra điểm danh.

Tôi đi từ sự lạ lùng này sang sự lạ lùng khác, thầm nghĩ « kiếm đâu ra tên tù lịch sự nhã nhặn lại tốt tướng đến thế này …». Buồng điểm danh rất nhanh. Rất tất tưởi. Khác hẳn với phong cách tà tà của các trại phía nam. Điểm danh xong là tù lao vào nhà mét, í ới loạn cào cào. Âm thanh toàn những câu đm tuôn xối xả! Tuôn như một thứ hàng rao bán sát cửa miệng. Vô lý và vô tội vạ! Tôi là dân từng sống đời đầu đường xó chợ nhưng cũng không thể chịu nổi, lỗ tai như lùng bùng muốn chóng mặt. Nhìn qua Lương. Lương nhìn tôi lắc đầu ngao ngán, đầu Lương cúi xuống, mắt chớp chớp ra chiều mệt mỏi … Tôi hiểu được tấm lòng Lương đang nghĩ gì. Lương và vợ đều là nhà giáo, là thanh niên di cư vào nam 1954, học hành đến nơi đến chốn. Là tín đồ Tin lành, mấy năm sau cùng của VNCH Lương ra ứng cử hội đồng tỉnh ở Cam Ranh và trúng cử. 1983 thành lập Lực lượng chống lại nhà cầm quyền cộng sản, năm 1985 Trần văn Lương cùng Thượng Tọa Tuệ Sĩ mang án tử hình nhưng nhờ sự vận động của Nhân quyền quốc tế và Thụy Điển, hai bản án tử hình ấy bị hủy bỏ …

Chỉ trong chừng hơn 20 phút, đám tù hình sự đã xong xuôi quần áo để chuẩn bị xuất trại. Mười người tù miền nam được yêu cầu không di chuyển, ai ở chỗ nấy. Tất cả những tù phạm của các buồng khác không ai được đến gần nhà số 1b, kể cả những tù phạm có phần ăn chung buổi sáng với các « đầu gấu» của nhà 1b. Hai vệ binh (quản chế) đứng hai đầu của liên buống 1a 1b liên tục đưa tay phất đuổi những tù phạm có ý đến gần chúng tôi.

Xuất trại. Các đội tù như những đàn ong thợ nối đuôi nhau xuất cổng khu ngồi thành hàng ngay ngắn giữa sân trại chờ điểm quân số và xuất từng hai hàng một. Cách xuất trại kiểu này nhanh hơn trại A20 gấp đôi, vì việc tra xét, nặn áo nặn quần không xảy ra với mọi người như ở A20. Tầm nhìn của tôi không thể thấy hết được toàn diện mà chỉ nhận ra được sự hoạt động ở phần không gian sát cổng xuất trại. Điều khác biệt thứ hai rất đặc thù là A20 không có bất kỳ tù nhân nào mang nón cối, dù là thường phạm hình sự hay chính trị, trong khi ở đây, 90 % là tù nam mang nón cối! Mắt tôi mãi đến hàng năm sau mới quen dần được với cảnh này. Dù quen, nhưng trong thâm tâm vẫn không dấu được sự ghét bỏ.

Trại vắng lặng như tờ được một lúc thì nhà tù số 1 khu nữ có tiếng động ồn náo, những thùng đồ nghề mộc mộng và dây điện, mỏ hàn …được khệ nệ lôi ra cổng chính. Anh em đều biết là chúng tôi sẽ không ở tại căn buồng này. Cách canh phòng cẩn mật không cho tù thường phạm tiếp xúc cho chúng tôi hiểu rằng chỗ mà chúng tôi sẽ ở dứt khoát không phải là căn buồng này, một căn buồng có thể tiếp xúc với cánh tù về từ Thái Lan mà trại này gọi bằng cái tên quái dị «qúa đà », cũng gần giống với trại A20, an ninh quản giáo gọi tù chính trị là «tù cưa ghế », « tù phản động ». Họ đều phải chấp hành một chỉ thị nghiêm khắc là không được gọi chúng tôi là tù chính trị.
Những người tù thường phạm, khi đề cập đến chúng tôi cũng không được nhắc đến hai chữ chính trị. Tuy nhiên, các trại phía nam, tù hình sự đều không coi sự ngăn cấm ấy ra gì, nên trong sinh hoạt tù, vẫn rạch ròi tù chính trị và tù hình sự, không có chuyện « cào bằng » như ở các trại phía bắc.

Tôi cố ý bắt chuyện với người tù nhà trưởng, nhưng anh ta có ý tránh. Đến một lúc tôi chờ anh ta bước vào nhà mét tôi bám theo. Anh ta ngồi ở một bồn cầu và tôi ngồi bên bồn thứ hai, cả nhà buồng đông đến bẩy tám chục con người mà chỉ có hai chỗ ngồi cầu. Tềnh hênh phía trước và ngăn giữa hai bồn bằng một bức tường cao chừng 70cm. Vừa ngồi chồm hổm xuống thì một bóng vệ binh đi sộc ngay vào. Với tầm nhìn thẳng vào hai khoang nhà cầu như vậy, ông ta có thể nhìn thấy mọi thứ hình thù mà chỉ có cha mẹ con cái vợ chồng mới được quyền nhìn vào! Ngượng nghịu một chút rồi ông ta quay ra, tiếng giày gõ vừa ra khoảng cửa điểm danh với những tiếng phì phì phun nước bọt, tôi hỏi nhỏ người tù nhà trưởng ngay, giọng vừa đủ cho anh ta nghe.

- Anh biết chúng tôi rồi sẽ ở đâu không?

- Bên nhà Một, khu nữ! Anh ta đáp nhẹ.

- Đội của Trần quang Đô ở chung hay ở riêng?

- Chung.

- Đói hay no?

- Đói!

- Có thăm nuôi thường không?

- Không!

- Người miền nam hết phải không?

- Không, có cả Bắc.

- Bắc như tôi?

- Không. Bộ đội bỏ ngũ. Tội của họ là tôi phản bội, tội mấy anh kia là tội hoạt động Phỉ. . .

- Đô ở đây lâu chưa?

- Em không biết, em mới vào. Vào thì họ đã có rồi.

- Anh vào đây mấy năm rồi?

- Hai năm hơn.

- Trại này dân người ta gọi là trại gì?

- Trại 5.

- Có tên khác không?

- Lam Sơn.

- Không, có tên gì như là đầm đe hay đầm đùn gì đấy?. .

- Không, em không biết.

- Lý bá Sơ?

- Không, em không biết.

Có tiếng bước chân người đi đất khá nặng nề bước đến gần cửa nhà mét. Tôi đứng dậy kéo quần thắt dây và múc những ca nước dưới đáy bể tạt vào bồn cầu. Giờ mới thấy mùi hôi thối tanh tưởi. Quay lại, tên tù trực sinh đang đứng ngay giữa cánh cửa, y nói lớn.

- Dội thì dội một gáo thôi là được rồi. Dội như thế nước đâu ra mà dội!

Tôi nhìn thẳng vào mắt y, lừ lừ bước đến sát người hắn. Y có vẻ dội. Tôi bật cười, thò tay vào túi áo tù quắp ra hai điếu thuốc thơm, một điếu gắn lên miệng một điếu đưa vào tay hắn.

- Làm cái cho thơm phổi người anh em.

Khum tay bật quẹt, tôi đưa về phía mặt hắn. Y hơi bất ngờ một chút rồi gắn điếu thuốc lên môi. Lửa đã cháy đầu thuốc của y, tôi mới châm điếu thuốc của mình. Đứng bên y lưng quay vào nhà mét tôi nói.

- Tôi cũng là dân lang bạt giang hồ, đừng nhìn tôi khác với anh em. . .

- Chả trách, tối qua anh rất máu …

Hắn đã nói chuyện, nghĩa là một mạch đối thoại đã được nối thêm. Tôi nhìn hắn, mình trần, mặc độc cái quần cộc kiểu dân đá bóng lụng thụng, con đại bàng xâm lam nham trên bả vai. Tôi hỏi khẽ.

- Khánh có em ở đây không?

Hắn trợn mắt.

- Anh hỏi anh Khánh trắng ấy hở?

- Ừ!

Tôi nghiến hai hàm răng lại với nhau. Liếc mắt nhìn thẳng vào mặt người tù hình sự vai có xâm hình con đại bàng. Y cúi xuống, tay hờ hững cầm điếu thuốc, miệng thở ra những hơi khói không chủ ý. Nhìn dáng điệu, tôi ngầm hiểu là cậu ta đã trúng đòn hỏa mù. Tôi thực chẳng biết Khánh trắng với khánh đen là ai, có điều lúc ở B34 Sài Gòn, yêu cầu họ mua báo dùm để đọc trong thời gian biệt giam, họ chỉ đem vào tờ An Ninh Thủ Đô gì gì đó, toàn những chuyện của các băng nhóm giang hồ vặt. Cái tên Khánh trắng, Dung Hà ám theo tôi từ đó, giờ mang ra đánh đòn gió, lại ít nhiều hiệu nghiệm. Tôi nghĩ cậu tù hình sự này ít nhiều cũng có quan hệ với cánh Khánh trắng còn lại ngoài xã hội. Thấy cũng không nên đi «qúa đà», tôi nói vừa đủ hai người nghe.

- Chuyện gì quên được thì quên đi. Đã quên thì phải luôn luôn ghi khắc là quên hẳn. Chớ có mà mớ sảng rồi phun ra …

- Vâng …

Có lẽ cậu ta đã rất cô đơn. Cô đơn và sợ hãi! Vừa sợ hoàn cảnh trong tù, vừa sợ hoàn cảnh ngoài xã hội với những thù oán và những hệ quả mà thằng tù hình sự nào cũng ám ảnh: Những điều đã khai và hệ qủa tự nhiên của những sự cung khai đó!

Tôi về chỗ nằm, ngồi tựa lưng vào mấy chấn song cửa sổ. Quang nằm khép mắt, hai tay đan vào nhau để dưới ót. Lân (Lương) ngồi sát vào tôi.

- Có được gì không? Mấy điếu thuốc của Quang nhà ta đấy!

Tôi đáp, vừa đủ ba người nghe.

- A là ta sẽ ở bên kia, cái nhà đêm qua hàn hàn xì xì. B là cánh Hoàng Cơ Minh ở chung một đội. C là chúng đói meo. D là thằng trực sinh hình như là đàn em của thằng Khánh trắng. . .

Tôi vừa lẩm bẩm vừa tụt người xuống chiếu, lấy cái mền mỏng đắp lên mặt, co quắp người lại. Lân phá lên cười khằng khặc.

- Bố khỉ, lại còn cả khánh trắng với khánh đen. Đến chịu ông thôi!

Tôi quắp người, nhướng nhướng mắt nhìn vào mặt Quang, thấy cái môi hắn ngậm chặt, giật giật kiểu như muốn phá ra cười nhưng lại cố nhịn. Nhìn xuống bụng hắn, caí bắp thịt bụng cũng giật giật. Quê độ thiệt! Tôi nói.

- Vào tù, không biết nói phét có mà gặm đất mà ăn!

Quang bật ngồi dậy, tay ôm bụng gập người xuống để cười không thành tiếng. Lân cũng vặn người cười khằng khặc với sự tiết giảm tối đa âm thanh. Tôi bực mình nằm yên không nói gì thêm.

Đâu chừng nửa giờ sau. Vệ binh vào dẫn 10 người ra xe lấy đồ đạc cá nhân của từng người. Đi lại con đường đêm qua đã đi, thật sự là một sự chênh lệch một trời một vực giữa khu nhà cơ quan và khu vực giam tù. Tất cả các công trình này, đương nhiên là đều do sức tù làm nên. Một công trình nguy nga tráng lệ, giữa một vùng đất hoang sơ cằn cỗi, ngay bên cạnh một lao xá chỉ có tường và vách đá. Ngột ngạt, hôi hám, tàn bạo và cùm xích, đói rét.

Mọi thứ tư trang nhật dụng đem đi từ trại A20 được xếp ngay ngắn trước cửa nhà 1b. Từng người tù bị khám xét bởi hai vệ binh quản chế, trước mặt một người đuợc gọi là Ban, chắc là giám thị phó. Hộp tư trang của tôi là một cái va li bằng gỗ, anh em a20 đã đóng cho tôi bằng gỗ giáng hương. Trong hộp toàn thuốc tây nên phải gọi một bác sĩ vào để kiểm tra.
Một người phụ nữ quân hàm đại uý, được gọi là bác sĩ đến bên tôi để kiểm tra toàn bộ hộp thuốc. Hàng bốn năm chục thứ tên thuốc nhưng công dụng đều gôm vào một số chủ trị như phong thấp, thấp khớp, trụ sinh, hô hấp, suyển hen, bao tử, nhiễm trùng, tiêu chảy, kiết lỵ… tôi giữ rất nhiều thuốc của vợ tôi gom góp gơỉ về (*1). Thùng thuốc của tôi ở A20 luôn luôn có gần đủ các yêu cầu cấp bách của anh em tù chính trị. Tôi cũng dùng thuốc này để anh em đi rộng có thể giúp những người dân quanh trại A20, là người thiểu số, rất nghèo và thường tử vong do những bệnh rất thông thường như nhiễm trùng, kiết lỵ v. v… cũng khá nhiều trường hợp tôi chia sẻ cho cả những người cán bộ đàng hoàng với anh em, cả tù hình sự, những đứa bị bệnh xã hội tiêu tốn vào thùng thuốc rất nhiều vĩ trụ sinh.
Những đứa này, tôi đều bắt lên chỗ tôi nằm, vạch quần kiểm tra trước khi quyết định cho cơ số thuốc như thế nào. Trại không có thuốc chữa cho chúng nên chúng rất thương và mến tôi dù rằng những người cán bộ đều tỏ vẻ không thích chuyện này. Đi đội, chúng bắt được con cá con cua cũng dắt trong quần đem về bảo cho tôi. Trưa vắng, lúc nào cũng hai ba đứa hoặc đòi nằm bên tôi, tay vụng về cầm cái quạt đuổi những con ruồi quanh chỗ tôi nằm. . . hoặc ngồi ở một góc sân dưới tán lá dừa nghe tôi hát và kể chuyện cho tôi nghe. Ít người tù chính trị nào chịu nghe chúng kể chuyện, chịu vỗ về cho chúng bớt hận đời, bớt cô đơn. . . nên chúng coi tôi như một người thân của chúng. Tôi biết, chúng là những con người thèm tình cảm nhất. Một thứ mà chúng gần như đã hoàn toàn mất đi! Tôi biết, nhiều bản án mười mấy năm chỉ do bắt trộm dăm ba con vịt vì "em con đói quá, con liều bắt vịt của hàng xóm, rồi bị bắt. . !" Qua chúng, tôi nhìn cận cảnh được thứ luật pháp ngông cuồng và khập khiễng mù lòa của cái sự công lý trên toàn đất nước. . .

Ở A20, do vậy tôi ngẫu nhiên bị trở thành một lang y thuốc tây, một điều mà tôi hoàn toàn mù đặc khi còn ở Pháp.

. . . Người đại úy bác sĩ đọc nhẩm từng tên thuốc và rất khó khăn để nhận được sự tương đồng của các nhóm thuốc. Tôi bắt buộc phải nói dài dòng về từng nhóm thuốc … cuối cùng là trại đề nghị giữ dùm, đương nhiên cả hàng trăm chiếc kim tiêm mà tôi phòng thủ cho anh em cũng đều bị …giữ dùm. Tôi đuợc giữ một lượng thuốc tây tối thiểu.

Kiểm xét thuốc tây của tôi xong cũng là đến giờ chuyển buồng. Hàng trang lại được tha bôi sang đúng nhà Một khu nữ, chỉ cách nhà Nam 1a có chiếc sân chung. Hai cổng nhìn thẳng sang nhau.

Bước vào nhà 1 nữ, không gian thoáng đãng khác hẳn bên nhà 1 nam. Vườn rau cải bắp đang lớn, dãy rọc mùng mọc um tùm bên bờ giếng. Hai cây bồ kết xanh rì cao nghễu nghện. Điều ấn tượng nhất là tất cả các ô cửa sổ ngang 1m60, cao 1m20 đều vừa được hàn xì thêm những hàng song sắt chạy ngang. Ô cửa sổ do vậy, không chỉ có các song dọc mà đã thành một ô cửa với chi chít các thanh sắt ngang dọc phân thành hàng trăm ô vuông 15cm.
Cửa chính vừa được làm lại mới với gỗ lim chắc chắn. Một tòa nhà lớn, dài khoảng 60m bị chia ra làm đôi, ngăn bởi một bức tường bê tông vừa hoàn thành. Khi chúng tôi bước vào, trong sân đã có bốn năm người tù hình sự chờ sẵn. Tất cả tuổi khoảng 25, 28. Tôi nhớ có Sáng, Kiên, Quân, và hai người nữa tôi không còn nhớ tên.
Kiên người Kiến An, cùng quê gốc của ông Phạm đức Khâm nhưng ôg Khâm không hề lên tiếng nhận sự liên quan này.
Sáng người Hải Dương, Quân người Hà nội, hai người còn lại một Thái Bình và người trưởng nhóm tôi không nhớ được tên và quê quán. Tất cả đều là cựu bộ đội đặc công, ngoại trừ cậu sinh viên tên Quân. Đây là một người xưng với chúng tôi là người bị bắt vì hoạt động chung với nhóm lực của bà Dương Thu Hương, xưng là sinh viên học về ngữ văn, chọn tiếng Pháp là ngôn ngữ chính. Trình độ tiếng Pháp cũng tàm tạm, cách ứng xử khá lịch thiệp, lễ độ…nhưng thật sự là không thể tin nổi, sau một thời gian sống chung, dù rất quí những người tuổi trẻ nhưng chúng tôi buộc phải xây một bức tường an ninh với người thanh niên này.

Từ A20, tôi có mang theo được một cây đàn ghi ta gỗ mít. Đàn do anh em tù A20 đóng cho tôi. Âm thanh khá tốt, cần đàn hơi bị vênh nên bấm lên cung cao rất vất vả…nhưng bối cảnh tù, có được cây đàn như vậy là sung sướng hạnh phúc lắm rồi.
Vào buồng, chỗ nằm đã được chỉ định. 14 chỗ nằm trong nửa một căn nhà lớn. Lớp gác đã được gỡ bỏ thành ra buồng chỉ có một lớp nằm tầng dưới. Mỗi người được hơn một chiếc chiếu đơn, rất rộng so với tiêu chuẩn tù ở A20, tầng gác lại đã gỡ bỏ nên rất thoáng. . . Tôi nằm soài ra chỗ nằm nền đá, ôm lấy cây đàn. Cung đàn tự nhiên rơi vào giai điệu của bài thơ Cung Trầm Tưởng viết về Paris và ga Lyon đèn vàng, cung bậc thổn thức mà tôi không nhớ do Phạm Trọng Cầu hay Nguyễn Hữu Thiết đã làm thành một bài ca thật da diết.

“ Lên xe tiễn em đi
Chưa bao giờ buồn thế
Trời mùa đông Paris
Suốt đời làm chia ly

Tiễn em về xứ Mẹ
Ga Lyon đèn vàng
Cầm tay em - không nói
Nói chi - cũng muộn màng… »

Giai điệu vô tình, ít nhiều rơi vào tâm trạng của ba chúng tôi, Phạm Dũng, Lê Sơn và tôi, là những người từ Paris về. Với Lương, Quang, là những người có hiểu biết nhiều về nhạc tình thời 1975, ngay cả với Nguyễn Muôn, Hồng Vân và Đăng về từ Mỹ …đều nhất thời mang những cảm xúc mênh mang khó tả. Cảm giác đất bắc là cảm giác lưu đày một cách cụ thể nhất đã đang xâm chiếm tâm hồn những người tù miền Nam vốn mang âm ỉ thứ tình cảm xót xa của một thời Cộng Hòa tự do đã khuất.

Giai điệu chạy lan qua La Paloma, tôi ngồi hẳn dậy để hát theo cung đô. Hình ảnh một cánh chim biển cô độc bay nhập nhoạng trong tiếng sóng vỗ muốn làm tôi bật khóc. Phạm đức Khâm cất tiếng hát theo. Giọng ông Phạm đức Khâm là một thứ giọng vàng của nhạc tình. Ấm, sâu và rung rất bền.

“… Xa xa, đàn chim ưng dang cánh biếc trời mây tung hoành
Sương lam - đắm chìm trong hoàng hôn khi tâm tư tan tành
Thuyền ai đang lênh đênh -vượt sóng biếc trong tan vơi vơi cơn sầu
Nhớ mãi nhớ mãi - môi em cười khi bến xa xa con tàu,

Biệt ly sao chua cay!
Làm mắt ướt tóc xanh nay phai màu
Nhớ mãi nhớ mãi
Môi em cười khi bến xa con tàu …"

Khâm vừa dứt lời Việt của Phạm Duy, Dũng hát theo ngay bằng lời Pháp. Giọng Dũng là giọng Pháp Paris chính hiệu sau hơn 30 năm du học và sống đời sống thượng lưu của một chuyên gia IBM, Dũng lại vợ đầm dòng dõi tướng lĩnh gốc Normandie nên chất giọng Pháp của Dũng khó ai bì được. Giữa nhà tù hoang lạnh. Vừa bỏ đồ hành trang sau cuộc lữ hành đầy sóng gío, bốn năm người đã ngả nghiêng theo phách nhạc rumba tình tứ lãng mạn! Buồng tù xây theo dạng nhà hộp bê tông mái bằng nên âm thanh vọng ra bên ngoài nghe rất chắc chắn. Trong buồng âm thanh bass của dây mì (số 6) có những lúc làm run lên lòng thổn thức tấc dạ của đàn nguời tù lưu đày.
Đàn chuyền sang Biệt Ly của Doãn Mẫn, Phạm đức Khâm hòa vào ngay. Chất giọng của Biệt Ly phải là những người như ông Khâm hát mới bật ra được những phần đáy của ca khúc. Tiếc là tôi và ông Khâm không hợp tính nhau…

“Biệt ly! Nhớ nhung từ đây
Chiếc lá rơi theo heo may
Người về có hay. . . .

Mấy phút bên nhau rồi thôi…
Dáng em đến nay mờ khuất
Xa cách ta còn tìm đâu ngày vui. . . ”

… Phút ngẫu hứng rồi qua đi, đàn người tù trở lại thực tại đắng ngắt. Tôi bỏ đàn bước ra cửa bỗng nghe thấy mấy giọng nữ ở đâu đó vọng sang.

- Đàn nữa đi mấy anh ơi! Hát nữa đi mấy anh ơi!

Ngoái cổ nhìn qua những chấn song sắt sang khu nhà nữ, thấy năm sáu người tù nữ ngồi bên một ô cửa sổ rộng đưa tay ra vẫy vẫy í ới bảo hát nữa đi mà. Lương cũng nói theo.

- Làm vài "bãi" nữa đi, như ra mắt ấy mà. . .

- Thôi, soạn đồ đạc đi. Để bữa khác. Khùng vậy đủ rồi …

Quang nhắc mọi người về với thực tại phũ phàng. Tôi nhìn mấy cậu hình sự ở chung, mặt cậu nào cũng có vẻ ngạc nhiên và vấn vương đôi nét hớn hở. Tôi hỏi Sáng.

- Bác Khâm hát hay không?
- Hay quá ạ. Cháu chưa bao giờ được nghe như thế này.

Sáng đến gần tôi, tay kín đáo chỉ lên phía chòi canh.

- Mấy bà lên hết cả chòi đứng nghe kìa.

Tôi kín đáo liếc nhìn lên chòi, qủa là có hai ba cái đầu phụ nữ đang đứng chụm vào nhau trên chòi đá, mũi súng ghếch ơ thờ trên thành chòi.

Quân vừa từ bếp lên nhà buồng, hai tay cầm hai cái phích nước nóng vừa đi như vừa chạy.

- Ai đàn ai hát mà hay thế?

Sáng chỉ tôi, tôi chỉ ông Khâm. Quân hỏi tôi.

- Anh biết đàn "sao em vội lấy chồng không?"
- Bộ muốn hát hả? Vậy chơi luôn!

Tôi cầm đàn dạo tiết điệu réo rắt một bài ca mang âm điệu đồng dao của Trần Tiến. Quân ráp vào ngay. Giọng Quân khá mạnh “ … Bướm vàng đã đậu trái mù u rồi, lấy chồng sớm làm gì, để lời ru thêm buồn. Ru em, thời con gái kiêu sa …”. Vài đoạn tôi bè theo nhè nhẹ. Tiếng đàn bập bùng, âm điệu bài đồng dao bảng lảng, buồn man mác. . . Quân hát hai lần. Khi tiếng đàn ngưng. Không ai nói với ai điều gì. Không khí bỗng dưng như đọng lại.

Có lẽ, ai cũng đang rơi vào một tâm sự. Cả tiếng í ới bên nhà nữ số hai cũng không còn vọng sang nữa. Tôi nhìn sang bên ấy, thấy khung cửa sổ vẫn bốn năm người, nhưng ai cũng ngồi bó gối …


Phạm văn Thành

(*1) - Sau này, khi Hanoi trục xuất tôi về Pháp (1998), tôi mới biết, đa phần các thuốc ấy là do các anh chị em dược sĩ của tổ chức Liên Minh Dân Chủ gom góp cho vợ tôi gởi về.

= = =

-Bài đã post FB Phạm văn Thành May 25, 2013
Dưới đây là All Comments của bạn đọc tính đến August 21, 2014

  • Hải Âu Phi Xứ Biệt ly sao chua cay !
    Làm mắt ướt tóc xanh nay phai màu
    Nhớ mãi nhớ mãi

    Môi em cười khi bến xa con tàu …"
  • Thu Thuy Pham Rơi nước mắt chỉ mong đừng có những chuyện này xảy ra, sự thật quá phũ phàng sao mà che đậy mãi được.
  • Coccan Nguyen nước mắt ..nước mắt....chồng nước mắt.....
  • Son Pham Anh Thành ngoài "lì lợm" còn lãng mạn nữa. Qua bài này mới phát hiện thêm, mình cùng gu âm nhạc với anh nữa.hi
  • PhamThanh-Paris Pham Anh Son , hình như những ngươì đi chiến đấu ở vị trí mất còn , ai cũng lãng mạn anh ạ . Tôi rất ngạc nhiên khi biết rất nhiều anh chị em tù chính trị làm thơ rất nhanh và rất hay , A20 có những NGuyễn Thành , TRương tân, Hoàng Chinh , Minh Tuấn , Lê Thụ , Nam Phương , Đình Oai ....làm thơ rất hay và rất nhanh. Chúng ta còn có NGuyễn Hữu Cầu đang ở Z30D , Ông Cầu có những bản nhạc rất gía trị , ngang ngửa vơí nhạc sĩ Lê Thụ A20...

0 nhận xét:

Post a Comment