Friday, May 30, 2014

Mùa xuân đầu tiên trên xứ Bắc

February 9, 2013

Trại 5, Lam Sơn Thanh hóa 1995



Đất bắc đã vào mùa Xuân. Những cành đào hồng được đào bới từ bìa núi Mành đã tập kết phía ngoài nhà cơ quan. Trong khoảng sân thênh thang khu A, những gốc mít hai bên tường đã được sơn lên một lớp vôi trắng và bên khu nữ đã có những tiếng xì xào: «Tết này khéo có cả thịt lợn đấy nhá».
Những cơn gió Lào chưa về trên vùng đất Lam Sơn. Những tấm chăn đã được đem ra phơi nắng và những bộ quần áo chằng đụp đã bớt nặng nề trên thân thể người tù. Đội quân tù đặc biệt di lý từ A20 Phú Yên bước qua tháng thứ tư không được «tư do mậu dịch». Tất cả mớ «hành lý mì tôm» của tu sĩ Mai đắc Chương đã cạn sạch, anh em đã «tận tình tháo gỡ» cho vị tu sĩ cả đơì chỉ biết lo lắng miếng ăn cho người đồng cảnh.
Bốn cái phích nước đã hư mất hai vì cái cách ứng biến nấu cháo hoa của vị tu sĩ. Gian bếp nguôi lạnh lớp tro tàn mặc những đồng tiền của từng người tù nằm trong kho qũy của ban giám thị, dưới danh nghĩa « tiền lưu ký ».


Khoảng sân khá rộng trước nhà số 1 của khu nữ là khoảng vườn trồng cải bắp, sát cạnh chòi canh góc quan trọng nhất của trại. Từ chòi canh này có thể quan sát bối cảnh toàn nội trại cũng như bao trùm những con đường chính ngoài trại dẫn vào khu B, khu C nối vơí khu vực Nhà Cơ Quan và bãi đất trại Trâu đang bắt đầu san ủi để xây thêm phân trại D (sau này gom toàn nữ tù về, Lê thị Công Nhân và Phạm thị Thanh Nghiên đã bị giam nhốt tại phân trại D này các năm 2007/2011).

Sát cạnh chòi canh là khoảng giếng rất rộng (miệng giếng bề ngang đến 5 mét, lát gạch sạch sẽ vơí 4 ô tắm 1m5 vuông, tường cao chừng 1m4. Sát cạnh phía ngoài tường vòng ngăn cách 1m5 là một dãy rọc mùng, một dạng cây gần như khoai môn nước). Cách giếng chừng 10m là hai cây bồ kết cao, chót ngọn ngang ngửa đỉnh chòi canh sát vách tường chính cao hơn 6 mét xây bằng đá tổ ong.
Vườn rau trồng chừng 10 luống cải bắp đã bắt đầu cuốn nõn, mỗi luống dài chừng 25 mét. Trong góc sát với lầu cổng trực có hai luống rau đặc biệt: Thìa là và cải cúc. Hai luống rau đặc biệt này kề sát với gốc cây bồ kết mà tám người tù hàng ngày phá đá lớn và ngồi đập ra đá nhỏ. Mùi của rau thìa-là là một thứ mùi làm tê dại nỗi thèm ăn của những người tù gốc Bắc trường kỳ đói khát.
Bất cứ lúc nào, ngưng tay đập đá là cả bọn bị ám ảnh bởi cái mùi ngan ngát đặc thù của nồi canh chua cá miền bắc. Luống cải cúc xanh mơn mởn hết sức quyến rũ nếu ta phong phú thêm sự liên tưởng bằng cách cho một nắm thịt nạc đã băm nhuyễn vào một chiếc nồi đang sủi bọt xanh xanh màu rau tươi…nước miếng sẽ ứa ra để thằng tù thiếu đói phải cúi đầu xuống, dấu đi cái hòn adame đang ì ạch lùa lên kéo xuống trong cái cần cổ hạc.

Các luống rau được tưới bằng…phân người chưa qua giai đoạn phân hủy. Các búp nõn cải bắp tự nhiên ôm cuốn tất cả những thứ nước xối lên nó mà cuốn chặt vào tim lõi. Đó là lý do chỉ những lúc cực đói, chúng tôi mới tỉa vài nhánh và rửa rất kỹ lưỡng. Tuy nhiên, lòng tự trọng không cho phép chúng tôi tự nhiên hái những thứ rau ấy vì được nhấn mạnh rằng đó là vườn rau tù nữ trồng dành riêng cho cán bộ, dù khi chúng tôi vào nhà này, không còn tù nữ được đến đây. Không ăn, nhưng màu xanh của rau làm dịu mát tầm mắt rất nhiều mỗi khi đi bách bộ chung quanh, đặc biệt là luống cải cúc đã có những cây trổ hoa vàng. Màu vàng của mùa Xuân. Màu vàng của hoa mai. Màu vàng của bạt ngàn quất mọng trải rộn ràng trên đường Nguyễn Huệ của Sài Gòn những ngày sắp Tết.

Phân cách giữa vườn rau vơí sân bách bộ sát buồng tù là một luống hoa, đa phần là hoa thược dược. Những bông hoa thược dược kiêu kỳ làm nhức mắt thêm đám tù trọng án.

Vết hằn tàn phá còn rõ nguyên nơi người tù Lê Thiện Quang vừa mới từ lò sát sinh cộng sản về với Mẹ và con (2003)

. . . Xe bò cải tiến chở đá vào tận cửa cổng khu cách ly. Từ đó được mấy anh em tù hình sự Kiên, Thảo, Sáng. . . cút kít vào góc sân dưới hai gốc cây bồ kết cao nghễu nghện. Anh em hàng ngày ra đây đập đá.
Cả nhóm gồm Hồng Vân, Đăng, Dũng, Sơn, Lê Thiện Quang, Trương Lân, tôi và Sáng (hình sự) ngồi đập đá. Búa đập chỉ có hai cái, những thiết bị đập còn lại là những thanh bù-loong to gần bằng cổ tay. Trương Lân vẫn hay bù khú linh tinh để làm thời gian bớt nặng nề. Thiện Quang hay trầm ngâm và có mấy lần mảnh đá văng cắm cả vào mắt. Dũng lặng lẽ chiêm nghiệm cuộc sống tù đày trôi qua đời một "việt kiều" trí thức. Đăng vẫn phổi bò. Nguyễn Muôn khai bệnh không tham gia lao động, Phạm đức Khâm cũng vậy. Không khí đỡ căng thẳng hơn vì ngoài góc đập đá chỉ còn những người tù chung một ý chí, những câu chuyện bù khú không có tiếng cười gỉa lả của ông Phạm đức Khâm chen vào, cũng không có bóng dáng «tính toán kiểu Pnông Pênh» của ông Michel Muôn, cũng không có «cậu hình sự nguy hiểm » tên Quân bám chặt. Nhóm đập đá bên vách tường nhà tù tự nhiên có những giờ phút an ổn tinh thần.

27 Tết. Cổng khu cách ly có tiếng va động của xích sắt và một người cán bộ măt mày sáng sủa bước vào sân, đi kèm là đại úy Lâm. Một thông báo chóng vánh được đưa ra «Các anh có thể đăng ký mua hàng tiêu Tết trong giới hạn nhất định ».
Đỗ hồng Vân là người tiếp cận nhanh nhất vị sĩ quan công an được giới thiệu là «sĩ quan phụ trách căn-tin». Hồng Vân bao giờ cũng vậy, là người tỉ mỉ lo lắng những chuyện ăn uống một cách rất chi li và chính xác cho anh em. Mỗi người đặt mua những thứ cần thiết cho mình. Tu sĩ Mai đắc Chương đặt mua hai cái sô. Ngay buối chiều cán bộ căn -tin đưa vào hai cái …bô (dùng cho người già hay con nít đi …đại tiện!). Khổ thân ông thày, phải giải thích mãi hai bên mới hiểu nhau: «Tôi mua hai cái sô để muối dưa, chứ cái này tôi đâu đã cần phải dùng!», Vị tu sĩ già vào buồng lẩm bẩm: « Rõ thật là hâm, mình thế này lại đi mua bô … ị ». Cả bọn phá ra cười.

Hôm ấy tôi bị tẽn tò. Số là tiền lưu ký của tôi, vài triệu đồng VN còn lại lúc rời A20, tôi đã nhét vội xuống chiếu Nguyễn Thành và Nam Phương khi bị dắt từ buồng cùm về chỗ nằm ở nhà 2, chuẩn bị hành lý cho chuyến «về quê đất bắc » … nên khi ra đến Đầm Đùn, tôi không còn xu teng nào làm «tiền lưu ký». Mấy tháng qua thật sự là rất thèm miếng thịt, cũng muốn nhân chuyện này mà « đãi đằng » tí chút vơí Lê Thiện Quang và Trần văn Lương, vốn là hai người chung mâm ăn với tôi từ khi ra Đầm Đùn. Cả hai đều rất nghèo, rất thiếu thốn. Gần bốn tháng qua, chúng tôi không biết miếng thịt miếng cá là gì. Suất cơm hàng ngày thì rất thiếu. Nửa bát thân rau muống ăn rất khó vì có ngày anh em gắp ra cả …giẻ đi cầu. Nhưng đói quá, ba anh em vẫn phải ăn. Vừa ăn vừa nhăn nhó thảm hại.

Tôi lên tiếng mượn hai trăm nghìn của ông Phạm đức Khâm. Anh em té ngửa khi ông Khâm thẳng thừng từ chối. Tôi thật sự như bị gáo nước lạnh dội vào mặt. Anh em không ai còn tiền lưu ký đủ để cho tôi mượn, ngoài ông Phạm đức Khâm có vài triệu trong «tài khoản lưu ký». Tôi vừa bẽ bàng, vừa hổ thẹn. Lúc sau Trương Lân trách tôi «Anh tại sao lại đi mượn lão ấy, lão có đứng chung với địa vị anh em mình đâu. Làm sao lão cho anh mượn được, an ninh nâng quan điểm này nọ …».
Thiện Quang tần ngần ngồi đập đá, mắt nhìn dán vào một cây xu hào duy nhất mọc lẻ loi trước mắt đám tù đập đá: «Thành không nên như vậy. Chúng tôi chọn Thành đế sống chết, để ăn cùng mâm ăn… vì chúng tôi biết chắc chắn Thành sẽ bị cô lập. Chúng tôi ít nhiều cũng vẫn còn có quà gia đình gởi, tháng tháng cũng dăm ba ký cá khô, đâu sợ gì khó khăn. . . nhà trại đâu thể cấm nhận quà gia đình mãi được …Thành phải biết là Thành sẽ rất cô đơn. Không phải ai cũng dám chia sẻ với Thành, nhất là những người hải ngoại, những người đang mơ được Mỹ đón đi. . . lòng họ giờ chỉ mong được can thiệp để tự do … »

anh Lê Thiện Quang (án 15 năm từ 1992) đã mất đầu năm 2013

17 năm đã trôi qua, lời nói của người sĩ quan biệt kích ấy như vẫn còn văng vẳng bên tai tôi mỗi khi Tết đến Xuân về.

Tết năm ấy, Dũng Đăng chia cho nhóm ba người chúng tôi mấy quả trứng vịt. Tu sĩ Mai đắc Chương đưa cho mấy phong bánh đậu xanh và một gói thuốc lá. Hồng Vân ăn chung vơí Lê Hoàn Sơn và Phạm đức Khâm, cũng chia cho anh em chúng tôi bát thịt kho. Ba tấm bánh chưng trại phát nằm chù ụ giữa mâm ăn (chỉ là mâm tưởng tượng, đặt bát đũa nhựa ở một góc sân, trên nền gạch). Bánh chưng không ăn được vì pha tạp giữa nếp và tẻ, bóc nhân ra chẳng hiểu là nhân gì, thịt thì không có. May có suất thịt của trại phát, lúi húi nấu nấu nướng nướng vơí nhau cũng qua cái mồng một Tết.

Mồng hai, Trương Lân (Trần văn Lương) đi nhặt nhạnh những bánh chưng của những người khác không ăn, bẻ rời ra để phơi khô. Tôi ái ngại hỏi: «Phơi làm gì anh Lương, sao mà ăn được!». Lương cười: «Rồi cũng ăn được tất!». Tôi hoàn toàn không ngờ là số bánh chưng tưởng rằng vứt đi đó, sau này đã giữ được mạng sống cho Trương văn Sương suốt sáu tháng biệt giam trong trại C.

Mồng 3, người phụ nữ tên Mai từ ngoài đội về, cố ý đi sát vào vách tường khu cách ly chính trị miền Nam. Đây là người phụ nữ miền Nam duy nhất có mặt ở trại này! Tôi và Đăng sấn lại sát tường để nhìn người phụ nữ ấy, như cố tìm một hơi hướm thân yêu của miền Nam đã rất xa xôi. Mai đi sát gần tường dọc theo hàng mít rợp tán lá, hạ nón cầm nơi tay, mắt nhìn vào ô gạch hoa nơi đang có « hai thằng khỉ gió » đứng chầu chực. Lần thứ hai cô ta lên tiếng kể từ ngày anh em tôi đến trại này, vừa đủ chúng tôi nghe: « Mấy anh hái cho em ít trái bồ kết, trưa nay có người ném sang bếp mấy anh mấy ký khoai, mấy anh ném lại cho người ta bồ kết. Bồ kết là cho em. ». Giời ạ! Cái tiếng nói ấy sao mà nó ngọt lỉm- lìm -lim đến như vậy! Tôi sung sướng muốn thộn mặt ra, nhìn sang Đăng, thấy cái miệng hắn cười tí toét. Đăng có cái miệng cười rất đẹp, hắn lại có bộ râu rất tu mi nam tử.

Dăm phút sau Đăng lọ mọ leo lên cây Bồ kết.

Cây bồ kết gần bằng người ôm, cao nghễu nghện và lá rất rậm. Đã mấy lần tôi muốn leo lên để bẻ cành nấu nước pha mì gói (phần suất của thày Chương chia cho anh em) …nhưng còn rất ái ngại. Đăng cũng đã leo một lần và khi xuống là bê bết máu vì gai bồ kết rất cứng, mọc dài như đinh 4, 5 phân và làm ta rất buốt khi bị đâm. Đăng hùng hổ leo, quên đi rằng sức lực Đăng chẳng còn bao nhiêu, leo thì được nhưng xuống không phải dễ. Điều tôi ngần ngại đã y chang. Đăng đeo trên cành cao, mặc hai người phụ nữ quản chế ôm súng gắt nhặng xị trên chòi canh, cách chỉ chừng 20 mét. « Cái anh kia, xuống ngay, ngã gẫy cổ bây giờ!». Cũng là tiếng nói của phụ nữ, nhưng tên Đăng chả xi-nhê chút nào. Hắn vẫn bám trên một cái cành dẻo to tướng, cố hái những chùm bồ kết to đen đẹp nhất. Tôi bảo, đủ rồi nhưng hắn vẫn cứ tham. Tôi hiểu cái tham lam dễ thương của Đăng, muốn làm cái gì đó tốt nhất, đẹp nhất (dù chỉ là rất tầm thường, bé mọn) cho một người phụ nữ miền Nam đang rất cô độc trong trại tù nghiệt ngã này. Cái tham lam ngớ ngẩn nhưng bất cứ thằng đàn ông nào cũng có, khi yêu thương quí mến một hình ảnh phụ nữ mang bóng dáng quê nhà, bản quán.

Rất lâu Đăng mới xuống được, một mớ cành cũng đã được Đăng tranh thủ giật xuống. Đăng bảo: « Để luộc khoai »! Cả người Đăng, máu ri rỉ khắp tay chân. Đăng mặc độc cái quần xà lỏn vải tù, gai đâm toạc cả ra …trông thật là bi hài! Hắn hăng hái gói bồ kết vào một miếng vải trước mấy đứa hình sự. Sáng lên tiếng: "Anh đừng có gói, để đấy em mang cho chị ấy". . . Kiên không nói gì, nhưng đây là đứa rất thâm hiểm. Thấy chuyện có thể nảy sinh phức tạp, tôi lên tiếng: « Đừng bó đừng gói chi ráo, ném gói sang tường nhà 2, loạng quạng người nhặt gói đồ sẽ vào buồng cùm!. . . ».

Buổi trưa có người ném một túi khoai sang thật. Nhanh như cắt, Kiên có mặt tức khắc nhặt bao ấy lên. Mắt Đăng tóe lửa nhìn Kiên, tôi cúi xuống rút ngay thanh sắt kiềng vẫn đặt trên mặt nền bếp, bởi tôi biết chắc chắn Đăng sẽ bị Kiên đánh qụy nếu xảy ra xô sát. Kiên ăn uống đàng hoàng, béo nẫn tuổi ngoài hai mươi và là dân lao động, cựu lính bộ đội đăc công, ngay như tôi trong hoàn cảnh ấy cũng khó mà địch lại Kiên vì đã gần bốn tháng đói ăn. Sáng (cũng là dân cựu đặc công) sáp lại Kiên, giành lấy túi khoai và đổ hẳn khoai ra nền gạch, giũ giũ cái bao cát mấy cái liền để nếu có thư từ giấy má gì trong bao sẽ bắt buộc phải rơi ra. Khi thấy không có gì ngoài mấy củ khoai đuôi chuột Sáng quay qua hỏi Đăng bồ kết đâu, rồi nhét hết mớ bồ kết vào chiếc bao vải sợi. Sáng ném cả cái bao vơí bồ kết sang tường nhà 2. Chấm dứt cảnh căng thẳng suýt chút nữa thì xảy ra.

Tât cả các hành vi của từng người vừa diễn ra, chỉ cách chòi canh góc trại A nữ khoảg 50 mét. Người phụ nữ mang lon thượng úy thủ cây súng AK luôn bóng nước sơn đứng thắng trên gác đã lặng lẽ theo dõi với mũi súng đã chỉ chếch lên bầu trời, thái độ sẵn sàng nhả đạn báo động nếu có xảy ra va chạm thật sự giữa những người tù hình sự gốc bộ đội đặc công và những người tù chống đối từ miền Nam ra.

. . . Đó là một mớ khoai lang, củ lớn nhất chừng bằng ngón tay cái, đa phần là bằng ngón út, ngón vô danh. Anh em cũng có một nồi khoai ấm áp.


Sau này tôi mới biết Mai là một thương nhân rất giàu có ở Cần Thơ, bị bắt vì tội dám vượt mặt nhà nước, đem gạo từ miền Nam ra miền Bắc. Và vụ mấy ký khoai, Mai đã được sự đồng ý của những người quản giáo khu nữ phạm. Người ném cái bao khoai sang cũng là người của cán bộ khu nữ.

Giờ này, chẳng biết những người liên quan đến câu chuyện đầu năm 1995 này đang ở đâu. Đăng đã ra người thiên cổ trên đất Úc. Thiện Quang vừa mới ra đi chưa đầy 40 ngày. Nghe nói Kiên cũng đã chết trong nhà tù Đầm Đùn …


-

0 nhận xét:

Post a Comment