Tuesday, April 29, 2014

A20 Ánh lửa giữa đêm trường (3) - Đêm Phi Công

viết ngày 19. 2. 2015 Paris


Trại tù A20 Xuân Phước
28. 10. 1994

Cuộc biểu dương thái độ để phản đối nhà cầm quyền cộng sản VN của tù chính trị A20 bước sang ngày thứ ba.

Buổi trưa đã có một cuộc bàn thảo bên nhà 1A trên chiếu tù nhân chính trị Nguyễn Thành Trợ. Anh Trợ là án lưu niên, gốc gác liên quan đến nhân sự của một mảng nhân lực đảng Đại Việt Phú Yên. Năm 1994 anh đã sắp mãn án, là nhân lực đã được qui chế "làm rộng" (*).
Nội dung cuộc bàn thảo xoay quanh một chủ đề tế nhị và kín đáo được cho là rất quan trọng. Trong chiếu bàn luận có Lê hoàn Sơn là người về VN tham gia vụ án biểu tình bạo loạn 5. 3. 1993 tại Sàigòn cùng với tôi. Sơn về từ Hồng Kông, sau tôi 4h bay, cùng đáp xuống phi trường Tân Sơn Nhất. Trần nam Phương có mặt trong cuộc thảo luận và ngay sau khi cuộc bàn luận chấm dứt, không khí trở nên cực kỳ căng thẳng bên nhà 2A.
Nội dung cuộc bàn thảo tôi không đươc chia sẻ cho đến tận tháng 3 năm 1995, tức là gần 5 tháng sau, khi nhóm 10 người của A20 bị đưa ra trại 5 Thanh Hóa tháng 11 năm 1994 được sáp lại sống chung cùng khu cách ly 4A phân trại A Lam Sơn Đầm Đùn Thanh Hóa với nhóm hơn 40 người A20 chuyển trại ra tháng 1 năm 1995 vào những ngày cận Tết.


Đêm đầu tiên gặp lại nhau, tại căn buồng cách ly 4A Lam Sơn Thanh Hóa, Trần Nam Phương ngồi sát cạnh tôi, cả hai lưng dựa sát vào tường, cạnh cửa sổ, cách chỗ nằm của thày Mai đắc Chương một chiếu nằm, giọng Quảng Nam của Nam Phương đều đều…

- Nội dung câu chuyện là quyết định cô lập bắt Phạm văn Thành giao cho giám thị. Lý do được nêu ra là để giữ an toàn mạng sống cho những người tù già yếu, giải tỏa căng thẳng trong trại tù mà chủ yếu là do Phạm văn Thành gây ra.

- Ai chủ xướng? - Tôi chầm chậm hỏi Nam Phương.
- Nguyễn thành Trợ!
- Chiếu bàn luận đông không?
- Năm sáu người! Có cả Dũng. Anh Dũng đến thì nội dung đã xong.
- Có Lê hoàn Sơn à?
- Từ đầu đến cuối! – Phương đáp dứt khoát.

Tôi bần thần nhìn sang chiếu Michel Muôn đang có Lê hoàn Sơn ngồi với ông Phạm đức Khâm. Câu chuyện đã xảy ra năm sáu tháng, giờ đoàn người bị đày ra đất Thanh Hóa chó ăn đá gà ăn sỏi này, âm vang oán trách tôi đã râm ran trong năm tháng qua giữa một số người chung quanh ông Phạm đức Khâm mà Lê hoàn Sơn là người thân cận nhất. Một cảm giác bẽ bàng ngấm dần vào tâm trí khi hình dung lại 5 tháng bị cô lập vừa qua trong nhóm 10 người đầu tiên từ A20 ra bắc, được đối phương xây dựng hình ảnh là nhóm thủ lĩnh cuộc nổi dậy A20 tháng 10. 1994.

* * *

Trưa 27. 10. 1994
Tu sĩ Nguyễn hữu Tín lúp xúp leo lên chỗ chiếu tôi đang ngồi. Chung quanh mọi người gần như đều quan sát. Thày lúp xúp vì tay cầm môt ly sữa lớn. Khi đã ngồi xếp bằng xong mới cầm một bàn tay tôi, bắt xòe tay ra và đặt vào tay tôi ly sữa ấm. Thày nói.
- Thày Tuệ Sĩ bảo anh phải uống hết ly sữa này!
- Con không uống đâu thày! – Tôi đáp nhỏ nhẹ với vị tu sĩ hiền lành đang mang nguyên bộ đồ nâu đã rất cũ ngồi trước mặt tôi. Thày nhìn tôi, nửa thương nửa giận, khuôn mặt thày đen sạm, đôi bàn tay gầy gò xương xầu.
- Tôi ăn làm sao nói làm sao với thày Tuệ Sĩ? Thày đã bảo nhắn với anh rõ ràng rằng « anh tuyên bố tuyệt thực là tuyên bố với kẻ cầm quyền, anh không tuyên bố với chúng tôi. Chúng tôi cần anh ăn và uống…cuộc đấu tranh này không ngày một ngày hai… »
- Con đã có trù liệu, đã có tính toán! Thày cứ để cho con ứng xử …

Vị tu sĩ lại lật đật bám cột leo xuống sàn dưới, tay cầm ly sữa còn nguyên, miệng lầu bầu.
- Bướng đâu mà bướng! Rồi sức đâu mà hô mà sức đâu mà đi mà đứng!

Nhà 2A tự nhiên trở nên vắng bặt, những người đã có qui chế làm rộng đang cũng bị cô lập trong nhà 1A. Trần minh Tuấn không rời vị trí chỗ nằm trên phản trên, chính diện với cửa ra vào. Ngay buổi trưa 26. 10. 1994 Tuấn nói rành rọt giữa nhà.

- Anh em ai ở đúng vị trí nấy của mình, bất kỳ người nào không thuộc tập thể ban sáng đã hô khầu hiệu nhân quyền đều không được bước vào buồng, đặc biệt là đến gần Phạm văn Thành…

Tuấn người Bình Định, tù từ 1978 khi mới 20 tuổi, tính đến 1994 Tuấn đã 14 năm lao lý với nhiều tháng năm cùm. Tuấn tìm quên trong lao động khổ sai ở đội trọng án 12, ít nói ít cười nhưng khi đã nói thì thường là có chuyện lớn. Đây là mẫu người hành động, khuôn mặt sạm đen rắn rỏi, bưóc chân đi như bước chân mèo chỉ rõ sự tiềm tàng của những thế võ cận chiến biến ảo vô lường của người dân đất võ.

Ngay sát cửa ra vào tầng dưới, là Nguyễn Thành với cái gậy chống làm nạng mà rất ít khi Thành kè kè bên người. Nguyễn Thành người Huế Lăng Cô, nguyên sĩ quan cảnh sát quốc gia VNCH, hơn tôi chừng 6 tuổi, không trình diện cải tạo, lập ổ kháng cự, thất bại năm 1978. Sa lưới, bị tra tấn đến nát hai phần gân nhượng nên đi đứng rất khó khăn. Việc NguyễnThành thủ ngay cửa ra vào với cây gậy trong hoàn cảnh này không khác gì một lời tuyên chiến cảm tử, không khí trong buồng vì thế lại càng khẩn trương hơn. Vũ đình Thụy (Phú Yên) và Hoàng xuân Chinh Trần Nam Phương Trương Nhật Tân (cả ba đều Quảng Nam) đã rất nhanh thảo quyết thư gởi Giám thị và Bộ nội vụ (VC), bản sao gởi công luận quốc tế. Nam Phương leo lên chỗ tôi ngồi tịnh tọa nói nội dung bản quyết thự và hỏi hộp thư tầng chót là ở đâu? Tôi cúi mặt xuống nhìn viền mép chiếu tù sờn rách, nói vừa đủ cho Nam Phương nghe: « Đào Đăng Nhẫn!». Phương thảng thốt nhìn thẳng vào mắt tôi. Tôi im lặng gật đầu như một thái độ xác nhận lần cuối. Phương leo xuống. Chừng nửa giờ lại leo lên.

- Anh Bàn hỏi lại là có đúng Út nói ban nãy là Nhẫn gác đêm không?

Tôi khẽ gật đầu, nhìn thẳng vào môi Trần nam Phương.

- Em đã trù liệu cẩn thận. Các anh cứ thế mà làm, không lo ngại.

Phan văn Bàn nguyên cựu cảnh sát đặc biệt, trước 1975 chịu trách nhiệm một mảng nhân sự an ninh hỗn hợp quan trọng của vùng cao nguyên Di Linh Đà Lạt Lâm Đồng. Anh không nằm trong danh sách tù cải tạo đươc thả sau hạn án 6 năm của trại K4 Long Khánh năm 1982, một mình còn ngồi trơ lại giữa sân trại mênh mông để cuối cùng xách gối chuyển trại lên cao nguyên Gia Lai Kontum, vài năm sau ra về tức khắc thành lập ổ kháng cự « Mặt Trận Dân Quân Phục Quốc Nội Biên » với Trần Cao Hùng (tử hình tại Đồng Nai 1984). Lần bắt ấy chúng anh án chung thân, nghe dân chúng Long Thành đồn thổi nhiều về vụ án lẫm liệt này vì trước hội đồng xử án, Cao Hùng Trân ngang nhiên hô đả đảo cộng sản …
Phản ứng của anh Bàn tôi không ngạc nhiên, vì tất cả các tù chính trị đều «chạy mặt » các vị gác đêm! Trường hợp anh Đào Đăng Nhẫn (giáo sư Văn Sử Sinh Ngữ Trung Học Võ Tánh Nha Trang) là một trường hợp đặc biệt ngoại lệ, anh ẩn nhẫn trong vai trò này để thực hiện những bước truyền tin cuối cùng.

Anh Nhẫn sau ra tù, vợ con bảo lãnh sang Boston để thay tim. Tình hình sức khỏe của anh yếu cực kỳ sau đó nên gia đình yêu cầu anh em bằng hữu không nhắc cùng anh những sự kiện liên quan đến chính trị. Một nhà trí thức yêu nước, đấu tranh bằng những dạt dào tình cảm yêu thương … đã phải vùi mình vào sự yên lặng lạnh lùng của thời gian và thời cuộc!

Trở lại với không khí khu vực cách ly chính trị A20 Xuân phước ngày 27. 10. 1994. Nhóm anh Hoàng xuân Chinh Trương nhật Tân Vũ đình Thụy đã viết xong quyết thư, minh bạch xác lập thái độ phản đối nhà cầm quyền cộng sản về việc dùng tù hình sự (đã được hứa hẹn khoan hồng giảm án) để đánh tráo là tù chính trị trước đoàn điều tra nhân quyền Liên Hiệp Quốc. Thể hiện thái độ phản đối cụ thể là bất hợp tác với giám thị của toàn bộ nhà 2A. Yêu cầu một sự đối thoại nghiêm chỉnh của Bộ nội vụ về hành vi gạt lường của an ninh trung ương, dùng ban giám thị A20 làm trung gian cho hành vi lường gạt tập thể tù chính trị đang có mặt tại trại tù A20. Đi kèm với quyết thư là danh sách tuyệt thực đợt đầu gồm 13 người. Ba người tuyệt thực vô thời hạn và 10 người tuyệt thực ba ngày (cho đợt đầu). Danh sách 13 người gồm có:

hình chụp bản quyết định tuyệt thực 13 người, trích từ tập sách "Cuộc Nổi Dậy Ở Trại A20-Hồi Ký Chuyến Về Nước Đấu Tranh", by Phạm Văn Thành - Quê Mẹ xuất bản ở Pháp 1996 (**)

Trong danh sách khi biết có tên anh Huỳnh ngọc Tuấn tôi có hơi băn khoăn, vì anh Tuấn gần như là người duy nhất thuộc diện tù vì cầm bút. Vóc dáng thư sinh, nụ cười hiền lành, lại rất gần với ông Phạm đức Khâm, một chính trị gia ít ỏi trong tập thể tù vì hành vi chống đối nhà cầm quyền cộng sản mang đặc thù là màu sắc của một cuộc cách mạng bạo lực giai đoạn khởi đầu. Thấy tôi nhíu mày khi đọc đến tên anh Huỳnh ngọc Tuấn, Nam Phương hiểu ý tôi ngay, anh nói.
,
- Đừng coi thường Quảng Nôm tụi tui chớ!
- Có biểu hiện gì về ông Khâm trong quyết định của Tuấn không? – Tôi hỏi nhỏ Trần Nam Phương.
- Không! Anh thấy Tuấn hắn hoàn toàn độc lập trong chuyện này! - Phương khẳng định.

Trong danh sách còn có cả Lầu Sĩ Phúc, người của vụ án Dòng Đồng Công. Phúc mẹ Việt cha Mỹ, sống lăn lóc trong cuộc sống khó sau 1975 tại Thủ Đức Sài Gòn. Phúc có lòng nhưng chắc chắn sẽ bị kẹt về lý luận khi an ninh đẩy vụ việc thành một vụ án lớn. Tôi nói với Nam Phương.

- Em giờ tùy thuộc ở các anh thôi. Các anh quyết sao em theo vậy. Có điều phải cẩn thận với những anh em quyết chí hứng mũi chịu sào. Tuấn có vè thư sinh quá, không biết có chịu nổi tra tấn khốc liệt dai dẳng không? Phúc sẽ giới hạn trong lý luận khi chúng đẩy chuyện của chúng ta thành một vụ án lớn. Điều này mình đã bàn rồi, chắc chắn chúng sẽ đem ra tòa để để vớt vát thể diện nội bộ. Tất cả sẽ ít nhất cũng tăng án thành chung thân…

- Út không phải lo! Anh em đã bàn hết rồi…

Phương vừa nói vừa đặt tay lên đầu gối tôi lay nhè nhẹ.

Từ lúc đó, tôi chỉ chuyên chú việc giữ sức khỏe vững vàng bằng cách giữ thật sâu các hơi thở. Tôi không ăn từ ngày 26 nhưng chủ động được nước uống. Đường dây truyền tin cuối cùng anh Đào Đăng Nhẫn làm rất tốt. Nhóm nhà máy đèn qua Nguyễn đình Oai đem được những bản tin cuối cùng từ chiếc bếp lò bé xíu của Đào Đăng Nhẫn và sau cùng là công trình của ba người còn sót lại của vụ án Linh mục Nguyễn Văn Vàng dòng Chúa Cứu Thế 1978. Ba người này do sự tổ chức của Nguyễn Thanh Hùng băng qua các rừng miá để truyền thư đến giáo xứ Kỳ Lộ. Từ đó, tin đã đi đến đúng nơi cần đến, gần như là tự phát một cách rất tình thế.

17h 00 ngày 28. 10. 1994
Trước tình huống đã quá căng, điều bất lợi cho sinh mạng các anh tù lưu niên và bệnh tật đã hiện ra rõ ràng. Trần văn Lương nguyên tắc là trực sinh, Lương và trực sinh của nhà 1 bắt buộc hàng sáng phải khênh những thùng phân của hai nhà 1 và 2 ra khỏi khu cách ly, đem ra đổ cho các “ao cá bác keo”. Sáng 28 Lương vào trại sau khi đổ phân, đến gần tôi ngay.

- Anh Thành, chúng nó dùng hóa học!
- Rõ ràng chứ? - Tôi thì thào với anh Lương.
- Rõ ràng! Chắc chắn! Đừng quên tôi xưa ở căn cứ Cam Ranh làm trong khâu hóa chất …
- Bằng chứng?
- Các vỏ hộp! Tôi nhìn thấy 4 vỏ hộp ném ở góc chòi trực trại, đều có dấu vàng cam và sọ người gạch chéo, chữ Tàu và chữ Ăng lê!

Ngừng một lúc, Lương nhìn tôi khá lạ lùng.

- Anh với trực trại Đa thế nào?
- Ông ta là người đàng hoàng! – Tôi trả lời anh Lương, biết thế nào cũng đã có một biểu hiện nào đó của trung úy Đa đối với cá nhân tôi. Đa là người mới vào làm trực trại A20 từ Sơn Tây. Là người thích đọc sách mà tôi thì khá nhiều sách báo do gia đình gởi vào. Một vài lần trao đổi khiến tôi qúi Đa vì Đa không như những quản giáo hay trực đội, quản chế …khác. Hoàn toàn không có thái độ “xin đểu” tù nhân dù gia đình Đa rất nghèo, mẹ lại bệnh nặng …
- Đa nói nhắn riêng anh: “Tình hình đang rất nguy hiểm cho anh em tù chính trị…”
Tôi liên tưởng đến dáng đứng nghiêng nghiêng của Đa bên chiếc xe đạp cũ. Nhớ lại đôi mắt thảng thốt của Đa khi tên tù hình sự vì leo hái dừa để bán (phần của Đa) bị trợt chân ngã từ ngọn dừa. Con mắt ấy là con mắt của người có lòng nhân ái và có trách nhiệm, điều khá hiếm hoi trong lớp người mang đồng phục màu xanh lá mạ hoặc màu xanh cứt ngựa đang nắm quyền sinh sát trong xã hội Việt Nam sau 1975. Tôi hiểu được ẩn ý của Đa qua câu nói với anh Lương.


17h50 lố nhố ngoài cổng khu là những chiếc xe lăn, năm bảy người mặc quần áo như phi hành gia lẩn khuất phía sau những chiếc xe lăn. Đám hình sự chừng ba chục đứa tay cầm dây hoăc cầm gậy, hai người sơ vin cầm hai cái máy quay phim dạng V8. Hàng tường đối diện khu cách ly lố nhố những chiếc mũ sắt...

Quản giáo đội 12 là đại úy Thăng, Lâm an ninh thiếu tá, thiếu tá Luận tư tuởng… cùng với năm sáu quản chế súng dài đi vào sát cửa buồng 2A yêu cầu anh em xuất buồng ra sân đối thoại.
Trần Minh Tuấn nói
- Muốn nói gì thì vào đây nói!

Tôi bàn chớp nhoáng với Trần Nam Phương rằng chúng ta cần xuất buồng. Căng như vậy đã đủ rồi, đoàn điều tra đã rời Việt Nam đáp Singapor. Tôi sẽ để cho họ bắt đi cùm và các anh cần phải chịu đựng, đừng vào cùm vì cuộc chơi còn phải tiếp tục bằng một hình thức khác.

Phương rất nhanh đi nói nội dung với Nguyễn Văn Trung và Hoàng Xuân Chinh Phạm anh Dũng. Bốn người tỏa đi khắp buồng. Tôi chờ cho tới lúc Trần Minh Tuấn nhìn sang tôi gật đầu, mới lên tiếng lớn.

- Các ông cứ ra ngoài cổng cách ly hết. 15 phút nữa chúng tôi sẽ tập trung giữa sân nhà 1.

Bẩy tám người an ninh lùi ra khỏi cửa buồng, ra hết ngoài cổng khu. Một cái bàn được đưa vào sân, cách cổng khu chừng 20 mét, đúng tầm các cửa sổ của nhà 1 có thể nhìn ra và nghe được mọi diễn tiến. Các quản giáo có mặt hầu hết, không ai mang súng. Đám vũ trang đều đứng hẳn ngoài sân chung hoăc nhô đầu trên các bức tường, đám hình sự và quân phạm được nhanh chóng tập trung sang sân nhà 3A. Cách bố trí này chứng tỏ sự bất ngờ của nhóm an ninh trung ương đòi thực hiện đối thoại.

Nhà 2A xếp hàng nghiêm chỉnh, khoan thai đi ra khỏi buồng nhắm hướng sân nhà 1 trong cùng khu cách ly. Tôi đi gần sau cùng, các anh bọc kín chung quanh thành hàng 4. Tiếng Trần đức Hào.

- Không để bất cứ ai chen vào gần Phạm văn Thành!

Nguyễn văn Trung, Hoàng xuân Chinh, Trần Nam Phương, Phạm Dũng, Lê Thiện Quang, Phan văn Bàn, Bùi Thúc Nhu, Nguyễn Ngọc Đăng … quây tôi vào giữa. Nguyễn Thành vẫn tay cầm cái gậy chống từng bước vòng ngoài, cách tôi chừng ba người. Trời đã nhá nhem, mặt Thành chỉ còn nhìn thấy bộ răng trắng mội khi anh đốc thúc anh em kè sát vào lối tôi đi.

Gần trăm người đã tập trung, ánh điện vàng le lói đã hắt lên các tàu dừa đang phất phơ quờ quạng. Đoàn tù xếp thành hàng 5. Sĩ quan Luận văn hóa yêu cầu mọi người ngồi. Anh em ngồi xổm xuống đất (tôi rất không thích kiểu cách ngồi như thế này, nhưng các anh đã ngồi hết nên tôi cũng đành đoạn ngồi như các anh). Chừng ba phút thì giám thị Trần ngọc Bôi bước vào, bước chân có vẻ đã chuyếnh choáng! Thoang thoảng có mùi rượu!..

Ông Bôi đến chống hai tay xuống bàn, nói ngay.

- Tôi đã nói với con tôi rằng, sau này lớn khôn, chọn nghề gì mà làm, đừng đi làm giám thị …

Ông im lặng một chút, mắt mệt mỏi nhìn gần trăm tù đang ngồi trước mặt ông. Nói tiếp, chậm rãi.

- Các anh đòi nhân quyền! Có ai lấy mất nhân quyền của các anh đâu? Các anh vẫn hít! Các anh vẫn thở! Các anh vẫn ăn … Chúng tôi nào có cướp giật của các anh đâu... Phải không nào?.. Còn Liên Hiệp Quốc ư!.. Tây đấy! Tây đến rồi thì Tây lại đi …. chỉ còn lại chúng tôi với các anh …

Ông ta hất hất cái đầu, đưa tay vuốt mấy cọng tóc lòa xòa. Tôi biết ông này đang ngà ngà say và đã đổ mồ hôi trán. Giờ này, tiết tháng 10, trời đã dịu và trại đã lên đèn, việc đổ mồ hôi không thể là do nhiệt độ …
Nói xong, ông ta nhìn thấy Thoại đang ngồi trong nhóm chống đối bèn gọi Thoại tách hàng bước ra. Thoại đáp không rõ tiếng và vẫn ngồi nguyên vị trí. Ông giám thị Bôi càm ràm chi đó, đại khái là Thoại là đứa dại dột …

Trong nhóm tù, Hoàng xuân Chinh đứng lên, dõng dạc hỏi trung tá giám thị Trần ngọc Bôi về việc “thực tập chống bão”. Ông Bôi đáp kiểu cà rửng, đại ý là giám thị thì có quyền điều động tù đi làm bất cứ việc gì. Tù thì là đã mất quyền công dân v. v…

Tôi ngồi giữa, các anh vây kín chung quanh. Hướng mắt vào nhà 1, các ô cửa sổ chật cứng những cái đầu anh em đội bếp và đôi lò gạch cùng những người ngoài nhà lô đã bị gọi hết vào, dầy đặc sau các chấn song. Ngoái nhìn về nhà 2 tôi thấy hai cánh cửa đã gỗ lim đã khép lại …

Thấy tình hình đã phải tháo ngòi nổ để bảo toàn tính mạng những anh đã quá yếu. Tôi nói với các anh chung quanh.

- Em sẽ để chúng đưa đi cùm và nhiều phần trăm là sẽ không còn gặp các anh nữa. Chúng nghĩ là tách được em khỏi các anh thì câu chuyện sẽ chấm dứt. Ta tạm thời sẽ làm như chúng nghĩ. Các anh đừng làm căng nữa. Mục tiêu chúng ta đã đạt được gần hết rồi. Cái đoàn thanh tra ấy không gặp được chúng ta, cuối cùng lại là điều may … vì họ gặp được chúng ta, chắc chắn chúng ta đã không vuốt mặt được cho những A20 đã chết …như hành động của chúng ta ba ngày hôm nay …


Nói một câu dài với các anh xong tôi giơ tay và đứng lên. Ông Bôi nói khá lớn.
- Mời anh Thành phát biểu.
Tôi nói lớn, chậm, cốt để mọi người cùng nghe rõ, kể cả trong nhà 1A hàng trăm cái đầu đang chen nơi các ô cửa sổ.

- Thưa ông giám thị. Điều đầu tiên tôi cần nơi ông một lời hứa danh dự...

- Được tôi hứa! – Ông ta nhanh nhẩu đáp.

- Thứ nhất. Sự phản đối của anh em chúng tôi là điều hợp lý. Đặt các ông vào trường hợp chúng tôi, các ông cũng sẽ phản ứng như vậy …
Trên bàn, ông Bôi đứng im lặng, có ý chờ câu nói tiếp. Đám trung ương đứng ngoài cổng khu cách ly cũng yên lặng.
Tôi nói to.
- Việc của các anh em chúng tôi phản ứng quyết liệt trong ba ngày qua, tôi là người chịu trách nhiệm khởi xướng. Tôi sẽ tự tách đội ngũ để chịu sự xử lý của giám thị. Tuy nhiên tôi cần nơi ông một lời hứa danh dự, đó là không tiến hành tiếp tục các hành động đàn áp các anh đã tham gia cùng với tôi. Mọi việc được coi như chấm dứt ở đây.

- Được tôi hứa! - Giám thị Bôi nói nhanh như sợ tôi đổi ý.

Tôi quay lại nói với các anh chung quanh mình.

- Chào các anh, em đi! Xin các anh đừng làm dữ nữa. Ta phải bảo toàn mạng sống để còn tiếp tục.
Quay lên phía đầu hàng nơi có bàn giám thị Bôi đang đứng, chung quanh hai bên tường dày đặc các công an trong tư thế sẵn sàng chiến đấu.

Tôi nói lớn
- Ban nãy ông giám thị so sánh chuyện nhân quyền như chuyện ăn ngủ, chuyện thở ra hít vào. Tôi xin bày tỏ sự phản đối với cách ví von ấy. Vì con trâu con bò con gà con chó … chúng cũng đều có ăn có ngủ có thở hít …. vậy chúng cũng đang là được hưởng nhân quyền ư? Anh em chúng tôi đòi nhân quyền là đòi những giá trị đáng sống của con người đã được Liên Hiệp Quốc làm thành Công Ước mà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa VN là một thành viên cam kết thi hành. Nếu các ông coi nhân quyền của con người chỉ là sự thở ra hít vào thì đây, để bày tỏ sự phản đối, tôi xin mời các ông xích lại đôi tay này …

Nói dứt câu tôi lách chân bước ra khỏi hàng 5 đang ngồi cứng chung quanh, với một lời tha thiết cuối cùng “Xin các anh chịu đựng! Đừng làm dữ nữa! Để trận khác …”

Bước ra khỏi anh em mình, tôi thoáng thấy bóng Lê văn Thụ dợm đứng lên. Nguyễn văn Trung rồi Nguyễn Ngọc Đăng … hàng ngũ có vể nhốn nháo nhưng tôi không còn quan sát được nữa vì đã bước chếch hẳn lên đầu hàng, sát chính tâm lối ra vào của nhà bếp nhà 1A. Vị trí này rất sát với chỗ nằm của trực gác đêm nhà 1 Đào Đăng Nhẫn. Toàn nhà 1 hàng trăm cái đầu, không một tiếng động! Tôi đứng hơi dạng chân, đoàn tù ngồi giữa sân giờ này là bên tạy mặt của tôi, chếch phía sau lưng chừng 6 mét. So thế đứng, tôi đã đứng ngang hàng với giám thị Trần Ngọc Bôi. Đưa hai tay ra phiá trước, hướng vào bốn năm tay công an đang đứng nhìn vào tôi, tôi bạnh cằm nhìn thẳng mặt bốn người.

- Xin mời!

Cả bốn đứng bất động!

Vài giây nặng nề trôi qua, tay tôi vẫn giơ ra phía trước nhưng chân đã thu lại không còn thế dạng chân nữa, vì nghĩ mấy người công an sợ tôi liều mạng đánh đòn chân trong tư thế ngang tàng ấy. Tiếng giám thị Bôi cất lên rất lớn.

- Còng nó lại!

Mấy tay công an lạ mặt mình đầy ba trắc cùm còng vẫn đứng yên. Thiếu tá Luận lúc đó mới bước đến gần, với tay lấy bộ còng số tám của người công an đứng bên cạnh, bấm móc ngàm còng vừa khít hai cổ tay tôi. Đúng lúc ấy, tiếng Nguyễn Ngọc Đăng cất lên!

- Đã cùm thì cùm luôn cả tôi này!

Đăng đứng lên, đưa hai tay ra phía trước đi dần đến gần tôi.

- Còng luôn nó lại! Dắt đi ngay!

Tiếng ông Bôi lại quát lên.

Bốn người công an áp giải tôi và Đăng bước ra khỏi khu vực cách ly, đoàn tù ngồi đứng nhốn nháo. Tôi chỉ kịp nhìn thấy bong dáng cao lớn của Nguyễn văn Trung bưóc lên đầu hàng, tay như đang phụ họa cho một câu nói nào đó …
Trời bất chợt đổ cơn mưa lất phất!

* * *

Ra khỏi cổng khu cách ly, bốn tay công an quản chế cùng với Lâm thiếu tá và Luận kẻ trước người sau áp giải tôi và Đăng đi về hướng tay trái nhắm nhà văn hóa. Tôi nghĩ rằng họ đưa thẳng tôi vào buồng cùm sát cạnh nhà bếp nhưng không, họ đưa tôi và Đăng trực chỉ khu nhà văn hóa. Khi bước chân đi ngang qua dàn mướp bên tay trái và cái hồ thủy tạ bên tay mặt với nhiều cây kiểng già nua, tôi nhìn Đăng, hỏi.
- Chơi nữa không?
-Sợ gì!! Đăng đáp ngay. Tôi giơ cả hai tay đang bị còng lên đầu hô cật lực “Nhân Quyền cho Việt Nam” Đăng cũng giơ hai tay còng lên trên trán đáp ba tiếng “Nhân quyền! Nhân Quyền! Nhân Quyền” rõ to! Súng lại khạc đạn ở ba phía chòi canh.
Tiếng Lâm thiếu tá gằn giọng không kiểm soát.
- Địt mẹ! Đã bảo là không được bắn nữa!
- Mấy thằng Phú Yên! - Tiếng một tay thiếu úy giọng Thanh Hóa cất lên ngay sau tiếng của Lâm...

“À thì ra là chúng mày sợ tiếng súng…” tôi liếc mắt sang Đăng. Đăng hiều ý, hắn bất ngờ quất luôn bốn câu xanh dờn “Đả - Đảo - Cộng - Sản”. Tôi khoái nghe tiếng súng bắn trên các chòi canh nên hét đáp cật lực hai chữ đả đảo. Hai cái chữ mà tôi rất hay hô khi còn ở Paris trong các cuộc biểu tình, đến nỗi đã có lần tôi bị cự nự “hô đảo đảo cộng sản thì phải rõ là cộng sản nào! Cộng sản Pháp đâu giống cộng sản VN!” khi ấy tôi cũng chẳng vừa, gân cổ vằng lại “ĐM! Cộng sản đéo nào cũng như nhau! Cũng thủ tiêu, cũng điên khùng, cũng dối láo …” Giờ đây, trong cơn mưa phùn lất phất, hai tay bị còng, chung quanh là năm sáu người bên kia chiến tuyến, câu hô đả đảo này mới thực sự làm tôi sảng khoái.

Tôi và Đăng hô hai lần đả đảo cộng sản thì chân bấm đến thềm nhà văn hóa. Mấy tay thiếu úy và hạ sĩ quan cầm súng dài đi bên tôi và Đăng mặt thật khó diễn tả. Thù không ra thù, bạn không ra bạn. Một sự im lặng khó hiểu. Luận cũng vậy. Riêng Lâm thì mặt trắng lên vì tức. Tôi lúc này chẳng còn gì phải sợ nữa. Anh em nội địa đã không còn bị ràng buộc chặt chẽ với sự ngổ ngáo của mình nữa. Đăng thì là thứ giang hồ bạt mạng, khi hắn đã chơi thì không hề suy tính thiệt hơn trong lúc cao trào … nên mặt tôi thản nhiên nhìn vào mặt lâm khi Lâm đẩy tôi ngồi xuống ghế trước một cái bàn gỗ.

- Anh nghĩ là chúng tôi không làm gì được anh hở anh Thành? Anh đừng quên là án anh còn đến hai linh sáu mới hết!

Tôi nhếch mép cười cười.

- Ông nghĩ là cái chế độ này có thể trụ được đến hai linh sáu à?
- Anh thật là ảo tưởng điên khùng! Ai lật đổ được chúng tôi? Các anh ấy à?

Vừa hỏi Lâm vừa nhếch mép cười và hai cổ tay bắt chéo lên nhau ra động tác còng cùm …

Đăng chợt nhiên ôm bụng nôn thốc nôn tháo, nhưng chỉ ra nước dãi bèm nhẹp. Tôi hiểu đây là đòn vờ của Đăng! Có lẽ Đăng đã thấy cần phải tỉnh táo lại khi nghe tiếng suốt cùm va động loảng xoảng từ khu cùm gần nhà bếp vọng lên (chỉ cách chỗ chúng tôi đang ngồi có chừng 150 mét). Đăng vốn hay vậy. Khi lâm trận, Đăng không hề sợ hãi điều gì, nhưng khi đã tịnh thì nảy sinh so đo hơn thiệt. Tôi không ngạc nhiên về thái độ này của Đăng. Đăng không hề hèn, có điều là người tính toán hơn thiệt những lúc đã xong một ”cuộc bể dâu“ nào đó. Quá trình điều tra của vụ án tôi và gần một năm chung đội tù cho tôi hiểu Đăng khá nhiều. Việc Đăng tình nguyện tra tay vào còng cùng với tôi là do ý mưốn có anh có em, Đăng có quốc tịch Canada trong khi tôi không có quốc tịch nước ngoài, Đăng ngghĩ là Đăng làm như vậy là một hình thức bảo vệ tôi hữu hiệu…
Ngồi chừng 20 phút. Không khí đã nặng nề khó khăn vì Lâm rất khó chịu trước thái độ thản nhiên thách thức của cả tôi lẫn Đăng. Câu chuyện có lúc đã cương lên khi Lâm nhắc lại câu nói của giám thị Bôi.

- Tây nó đến rồi nó lại đi. Chỉ có các anh là dại! Giờ có giết các anh thì ai biết, ai làm gì được chúng tôi?..

Tôi cà tửng (nhưng không hề ngờ rằng khối kẻ tin cái sự cà tửng của tôi).

- Ông Lâm. Ông chỉ ngang ngửa tuổi tôi. Ông là người ít nhiều có học, sao lại đi học lại lời của ông Bôi. Ông Bôi là lính già lên lão, tiếp cận khoa học thông tin gần như chẳng có khả năng gì … sao lại học lời của ông ta... Thế giới giờ là thế giới phẳng đâu phải ai muốn làm gì thì làm. Các ông mắc lừa tụi tôi mà không biết. Giờ là kỷ nguyên vệ tinh. Con gà chạy trong vườn của ông, nếu muốn nhìn, bọn tây nó cũng nhìn được thậm chí còn nhìn ra là gà mái hay gà trống … huống gì bọn tôi hàng mấy trăm con người, các ông đem dấu dắt, lúp xa lúp xúp như … Việt cộng nằm vùng …

- Anh Thành ăn nói coi trước coi sau nhá! Tôi không phải nhịn mãi đâu!

Lâm chắc nhột khi thấy tôi tỉnh queo đem chữ «Việt cộng nằm vùng » ra cà khịa. Thấy cũng đã hơi quá quắt, tôi lảng chuyện, quay sang Đăng.
- Nôn chi nôn kinh hoàng vậy ông Đăng, hai hôm rồi ông nôn vậy, coi chừng bị gì nặng đó …

Đăng hiểu ý tôi ngay, ổng tả oán.
- Kiểu này tiêu quá! Mà thôi, đã chơi thì cóc sợ! Cùng lắm là bỏ thây ở đây …

Làm sao mà tụi an ninh trung ương có thể để Đăng «ngỏm » ở A20 được! Chuyện này, thằng binh nhì súng dài bên quản chế cũng biết, nói gì là Lâm an ninh A20.

Chuyện Đăng bỗng dưng nhảy ra thách thức còng cùm cùng với tôi chắc chắn đang làm cho đám an ninh trung ương khó xử. Đụng đến những người mang quốc tịch Mỹ Canada là chuyện chẳng đặng đừng. Việc để tôi và Đăng ngồi ở nhà văn hóa đến cả tiếng đồng hồ cho tôi biết rằng «chẩn đoán» của mình không sai.

từ trái qua: các cựu tù nhân chính trị (cựu A20) Phạm Văn Thành, Lý Tống, Lê Hoàn Sơn và Phạm Anh Dũng, Feb. 1999 - Franfurt, Germany
ảnh tư liệu của Phạm Văn Thành

Có tiếng chó sủa ở khu nhà bếp! Vậy là có người lạ với đám chó berger Nga! Người lạ với đám chó thì chắc chắn là anh em tù! Giờ này có anh em tù đến gần khu vực bếp thì chỉ có là đi … cùm! Tôi dớn dác đứng hẳn lên cố nhìn xuyên qua vườn giềng đang chờn vờn nhiều tàu dừa la đà trước gió. Giờ đã hơn 8h tối … Không lẽ họ bắt Nguyễn văn Trung đi cùm?! Trời tối, không nhận được hình thù gì dưới cơn mưa lất phất.

Khoảng gần 9 h đêm, Lâm được lệnh mang tôi và Đăng vào buồng cùm. Khu cùm không phải khu cùm lưu cữu gần nhà bếp mà là khu cùm mới, mới tháng trước Lý Tống khai trương khi vách tường còn thơm mùi vôi, giờ Tống đã phiêu diêu đâu đó ngoài đất bắc sau cuộc vượt ngục bất thành. Chân bước đi về phía nhà cùm mà anh Tống đã khai trương hơn tháng trước đây, lòng bất giác bồi hồi, thầm tiếc nếu như có anh ở trong đoàn ngũ tù hôm nay, không biết sự thể sẽ «hoành tráng» đến cỡ nào...

Màn đêm nhập nhoạng những ánh đèn vàng vọt hắt ra từ những dãy nhà tù lụp xụp, mưa lất phất với những cơn gió làm những tàu dừa đong đưa qua lại trước khu thềm nhà văn hóa. Thiếu tá Lâm an ninh, trung úy Đa trực trại và thiếu tá Luận (tư tưởng) bảo đám hạ sĩ quan áp giải đưa tôi và Đăng sang bên khu cùm mới. Bước ra cửa khu nhà văn hóa, qua gian hàng nhỏ căng tin mà tôi biết ở trong đó có một hai người tù án vượt biên chắc chắn là còn thức nghe ngóng. Tôi ban nãy đều nói lớn những nội dung qua lại với thiếu tá Lâm cũng là có ý để những anh em này nghe được hết ý tưởng của mình, để nếu xúi quẩy mà có bị thủ tiêu hay ngỏm sảng trong buồng cùm thì anh em còn lại cũng không đến nỗi tủi hổ khi đã nhận tôi là đồng đội trong cuộc biểu dương vừa qua.

Hướng đi của những người áp giải dẫn tôi và Đăng về khu nhà cùm mới, nằm phía đầu nhà hội trường của trại, sát mé bìa trại về phía đội làm rau trọng án 12. Tôi bước đi, tay vẫn còn còng, loảng xoảng đâu đó tiếng suốt cùm đóng đập vang ra từ phía sau lưng, khu cùm sát nhà bếp! Không biết ai vừa bị đưa vào khu cùm ấy? Tôi nghĩ nhiều đến Nguyễn văn Trung. Trung khó mà ngủ bình thường nơi buồng chung được khi tôi bị đưa vào buồng cùm kỷ luật. Đặt trường hợp tôi là anh, cũng khó mà không lủi thủi vào nhà cùm …

Mưa lất phất, gió xào xạc, buồng cùm xa xa đã vang lên những tiếng đóng đập cửa sắt và khua rổn rảng móng cùm. Chắc đám tù tự giác thi đua đang chọn những móng cùm cho vừa khít với hai thứ cổ chân khá khác biêt, vì tôi cao mét tám trong khi Đăng khoảng mét sáu lăm. Đăng hơi nhỏ con so với tôi. Tôi quay sang nhìn Đăng đang đi song song bên trái, hỏi Đăng.

- Làm cái nữa chứ?
- Sợ gì! – Đăng đáp. Tôi hét lên rất to ngay khi Đăng dứt lời.

- Tự -Do - Cho - Viêt- Nam!

- Tự Do - Tự Do - Tự Do!- Đăng gào rất lớn! Lập tức những tiếng súng hai phát một vang lên, lần này chỉ có ở phía một chòi canh phía góc đội 12 nhà 1B. Tôi hô hai lần thì ngưng lại, có ý chờ khi bị dẫn vào sát cổng khu cùm sẽ hô lại hai lần nữa. Nhưng tiếng Đăng lại gào lên. Bốn chữ rất chói tai đối với đám cán bộ.

- ĐẢ ĐẢO CỘNG SẢN! - Tôi đáp rất lớn giọng bằng cả bốn chữ, bất chấp là đám súng dài sẽ làm gì mình.

Nhưng tất cả đều im lặng ngoại trừ một tiếng kéo đạn lên nòng sát phía sau lưng Đăng.

Tiếng Luận lên tiếng với đám hạ sĩ quan.
- Kệ họ!

Tôi và Đăng gào đâu chừng ba lần thì tới cổng khu cùm nơi có hai người tù tự giác chờ sẵn (một người tên là Thế án vượt biên và một người án quân phạm, người án quân phạm đã ở trại này từ rất lâu, hình như anh ta tên Đức, đã trở thành một người tù gián tiếp coi thầy Tuệ Sĩ là thày mình cho cuộc đời còn lại …). Đăng được chỉ vào một buồng cùm bên tay trái của cổng vào. Tôi lại bị dắt về bên tay mặt qua ba cửa buồng thì đứng lại nơi một cửa buồng đã mở sẵn. Buồng áp chót của dãy cùm 6 buồng.
Mấy người cán binh súng dài đứng xa cửa buồng chừng 4 mét. Tôi được dẫn vào buồng và chỉ ngồi lên một bệ nằm bê tông duy nhất. Hai người tù thi đua người nhấc cổ chân tôi đặt lên bệ cùm và luồn móng cùm chữ U vào hai cổ chân, khoen lỗ hướng lên phần trên của xương cổ chân, người còn lại là Đức (?) loay hoay đâm suốt cùm chui qua trụ thép cuối bệ nằm để luồn qua bốn vòng cổ của hai chiếc móng cùm vừa được đặt vào cổ chân tôi để cuối cùng chui tọt ra bên ngoài tường bằng một chiếc lỗ thép. Thao tác không có gì là thù hằn, nếu không muốn nói là gượng nhẹ. Cả Lâm và Đa đều vào buồng, rọi đèn pin kiểm soát lần cuối trưóc khi lách cách khoá đầu cây suốt cùm ở phần tường bên ngoài. Tiếng đập cửa sắt rất mạnh rồi tiếng xúc xa xắc xắc của chùm chìa khóa …là âm thanh sau cùng chấm dứt nghi thức cùm đầu tiên trong cuộc đời tù của tôi.

Tiếng bước chân của năm sáu người đi xa dần khỏi khu cùm. Không gian im ắng đột ngột làm tôi rơi vào cảm giác khó chịu. Tôi lên tiếng gọi Đăng nhưng không nghe tiếng đáp lại. Gọi to hơn hai ba lần thì nghe tiếng Đăng như tiếng ễnh ương từ rất xa vọng về, câu được câu chăng. Ra là cách kiến trúc buồng cùm làm thành rất khó nghe âm thanh bên ngoài, hai người tù biệt giam cách nhau ba bốn phòng rất khó có thể trao đổi được điều gì với nhau, dù là gào lên tùng chữ rất chậm rãi. Kiến tạo này rất giống với kiến tạo buồng biệt giam ở B34 (Catinat Cảnh sát Quốc Gia Sài gòn cũ trên đường Nguyễn Văn Cừ bây giờ).

Cảm giác bị cùm cứng hai cổ chân bằng móng cùm thép thật là khó chịu! Chưa bao giờ tôi bị cảnh này dù đã rất nhiều giờ suy nghĩ và liên tưởng. Buồng này là buồng Lý Tống khai trương mở màn sau khi thất bại cú “vượt ngục nguội” vài tháng trước. Anh Tống ngang ngạnh đã nổi tiếng nên khi cùm ở đây anh la hét ầm ầm, đòi phải có màn vì muỗi nhiều kinh khủng! Anh la quá đến nỗi giám thị phải đặc cách để anh có qui chế mắc màn! Điều hy hữu của nhà tù A20. Mắc màn, đương nhiên là người khác phải mắc vì anh bị cùm! Dĩ nhiên đám cán bộ không đời nào đi vào buồng cùm lúi húi … mắc màn cho một người tù nên tù tự giác phải làm! Phải khoan khoan đục đục dán dán rất mất thời giờ mới có thể mắc được cái màn cho Lý Tống! Tù cùm kỷ luật nằm dài ngoằng trong màn với đôi chân bị khóa trong bệ cùm thép man rợ, mồm luôn văng đủ thứ tiếng đan mạch chửi chế độ… chắc lịch sử nhà tù cộng sản Việt nam, chỉ Lý Tống là độc bá thiên hạ quần hùng về câu chuyện cùm quái gở này!
Tôi giờ nằm nơi bệ nằm mà mấy tháng trước anh đã “hành“ đám vệ binh quản giáo và trực trại, hình dung đến thân thể dài ngoẵng của anh mà không khỏi phì cười. Chịu anh thôi! Tôi thì không thể làm như anh được … vì quan hệ của anh với đám cán bộ rất khác với tôi. Anh hở ra là nói móc họng đám quẩn giáo hay giám thị, trong đầu anh, không hề có quan hệ bình đẳng nhân ái con người với con người… với tất tần tật những người làm cán bộ ở đây. Có lẽ cuộc chiến tranh đã làm cho anh dửng dưng với những sự nghiệt ngã và dửng dưng luôn mối tương quan con người với đội ngũ giám thị. Anh dễ thách đố với đám cán bộ và luôn coi họ dưới mắt mình. Tôi khác anh có lẽ bởi chưa bị lăn mình trong chiến tranh với tình trạng nhanh tay súng thì sống, chậm tay khạc đạn thì chết. Kẻ thù định hình rất rõ nét trong suy nghĩ của anh trong khi với tôi là còn mờ. Trong suy nghĩ của mình, tôi coi họ là những nhân viên công lực của một chế độ man dã. Lỗi là lỗi ở hệ thống, ở chế độ … chứ con người với con người, tôi không cảm thấy cần phải nhìn đội ngũ giám thị là kẻ thù. Vì với tôi, họ là con người. Cũng có cha mẹ anh em. Cũng có buồn vui tủi hận, thương yêu và giận dỗi. Trong suy nghĩ ấy, tôi coi Đa như một đứa em nghĩa trong đời hải hồ của mình. Tôi buồn khi thấy Đa thiếu thốn mà không dám xin xỏ ai như những lớp cán bộ khác. Tôi qúy Đa ở những lúc như vậy. Với Luận cũng thế. Ở Luận, tôi không tìm được điều gì để khinh Luận. Thăng cũng vậy, giáo đội Bếp cũng vậy… Hệ thống đã làm các anh kém cỏi đi, nhưng tư chất, khi có điều kiện thể hiện, tôi nghĩ các anh đều là những con người cần và tốt cho xã hội. Riêng Lâm cái nhìn của tôi có khác. Mỗi khi hình dung đến chuyện giáo sư Bảo bị treo ngược đầu để chịu đòn đánh của đám hình sự dưới sự giám sát chỉ thị của Lâm, máu nóng trong tôi lập tức như đầy ứ lên!
… Quá khát! Đã ba ngày tôi không ăn, lại hô gào ầm ĩ … giờ cái sự mệt mới xâm chiếm và lan tỏa. Buồng không một giọt nước. Tôi lên tiếng gọi lớn.
- Cho xin ly nước!
Tôi hô đến chục lần mới có tiếng lách cách mở cổng. Đám vệ binh với Lâm đến sát cửa. Tiếng Lâm hỏi.
- Anh Thành có nguyện vọng gì?
- Cho xin ly nước! Trong buồng không có nước! – Tôi đáp trong khi rất khó chịu vì hai chữ “nguyện vọng” của Lâm.
- Anh đã tuyên bố tuyệt thực thì chúng tôi không có bổn phận cung cấp nước cho anh. Muốn uống, anh phải làm đơn và tuyên bố dừng tuyệt thực!
- Ah! Ra là vậy à! Tuyệt thực không có quyền được uống nước! Luật này là luật rừng rồi!..
Tôi đáp rồi im lặng. Đứng đợi chừng 1 phút, Lâm hỏi
- Giờ anh làm đơn không? – Tôi đáp cảm ơn rồi im lìm. Ngoài cửa tiếng giày ba bốn người bưóc xa dần.

Tôi cố gắng chịu khát bằng cách tập trung các nhịp thở dẫn vào đan điền rồi tỏa theo mạch đốc vòng lên đầu, hai vòm họng giao nhau bằng đầu lưỡi để diễn tiến tự trao đởi nước diễn ra trong vòm họng. Cơn mơ màng ập đến với hình ảnh lềnh khênh của Lý Tống, khi lần đầu tôi bị bắt dẫn vào B34 năm ngoái, lúc dắt đi qua dãy biệt giam với các vòm cửa sắt đưa cơm hé mở, thấy tôi cao lớn, quần tù mới coóng cụt lủn làm hở hẳn ra đôi giày đinh cao cổ … phối hợp với những tin hành lang xì ra từ đám vệ binh áp giải về một phi vụ bỏ bom bất thành, có người đã tưởng tôi là Lý Tống nên hai ba ngày sau đó, mỗi khi bị áp giải cung, qua các buồng đều nghe những tiếng xì xào «Lý Tống », « Ó Đen Lý Tống sao trắng vậy ta … ». Giờ nằm đây, trên tấm bệ bê tông cốt thép Lý Tống đã nằm cùm ngay đơ, tôi hình dung lại ngày còn bé môi khi anh tôi mặc đồ bay về từ Nha Trang, lúc ấy tôi cũng đã mơ màng mình sẽ là một người lính phi công, mặc anh tôi nói móc « … học như mày … chỉ có phi hành thôi! ». Phi hành! Mãi sau này tôi mới hiểu anh tôi không nói đến phi hành phi vụ, mà là phi hành phi… tỏi!

Cái dáng nằm của Lý Tống chắc chắn sẽ phải giống tôi, không cách chi khác được vì cùng cao lều khều như nhau. Cũng xếp hai chân song song ở sàn cùm. Cái bệ cùm to đùng lịch kịch. Đầu nằm dĩ nhiên sẽ thấp hơn hai chân vì chẳng đào đâu ra gối. Hai tay đặt dọc theo thân mình để lót đỡ phần lưng và mông những khi cái lạnh ngấm buốt lên từ nền đá. Kiểu dáng này sẽ không khác gì chiếc máy bay đang bay lượn trên một bầu trời đì đùng đạn phòng không cao xạ.

Tôi thiếp vào giấc mơ hồ với lời ca diễm tuyệt của Văn Cao thời dâng trào lòng yêu nước kháng Pháp, khi viết ca khúc Không Quân Việt Nam Hành Khúc.

« … Ta là đàn chim bay trên cao xanh
Phi hành qua khói những kinh thành cao
Đôi cánh tung hoành vượt trên mây xanh
Ta là tinh cầu bay giữa đêm trăng …
…Đây đó hồn nước ôi … »!



Phạm văn Thành
Paris 19. 2. 2015
Giao Thừa Ất Mùi.



Các bài trước:

- A20 - Ánh lửa giữa đêm trường (1)

- A20 Ánh lửa giữa đêm trường (2) - Tiếng Thét Nhân Quyền



(*) Chú thích của Admin: làm rộng: một "thuật ngữ" đặc biệt trong nhà tù Việt cộng nếu không chú thích rõ, có thể bạn đọc sẽ nghĩ đây là lỗi đánh máy (ruộng chứ không phải rộng!). Thật ra là làm rộng. Chữ này nhằm chỉ một thứ "quy chế" (do bọn cai tù VC nghĩ ra) có vẻ nhẹ, thoáng hơn dành cho những người tù đã sắp mãn án (còn trên dưới 1 năm...). Thường ngày, tù nhân phải làm việc lao động khổ sai trong trại dưới sự canh gác của cảnh vệ kè kè với súng ống thường trực. Nhưng những người được cho đi "làm rộng" thì được đi chăn bò hoặc đi làm cày cuốc ở những thửa ruộng "của" trại tù nhưng nằm ngoài phạm vi trại. Tù nhân đi làm rộng được khoán việc ở những thửa ruộng bên ngoài đó mà không có cảnh vệ ôm súng đi theo canh gác họ. Họ tự giác đi, tự giác về vì bọn cai tù tin rằng án sắp mãn cho nên họ sẽ không tìm cách vượt ngục cho dù được đi ra ngoài lao động mà không có ai canh gác. Người tù đi làm rộng còn được "hưởng" một tình trạng quý báu với tù nhân: được giao tiếp xã hội, trao đổi tin tức, chuyện trò... với đồng bào ở bên ngoài, nơi những khu dân cư ở lân cận trại mà đa số đồng bào ở quanh đấy cũng đều là nông dân phải hàng ngày làm việc đồng áng của riêng họ.

(**):
Admin đang cập nhật toàn cuốn sách này tại Thư Viện Phạm Văn Thành, khi hoàn tất sẽ có thông báo rộng rãi, mong bạn đọc đón xem


Admin:
Bài này được anh Phạm văn Thành post trước hết ở Facebook Phạm văn Thành vào February 20, 2015 tức đầu ngày mồng 1 Tết Nguyên Đán Ất Mùi (2015)

Ngay sau đó là phần comment của bạn đọc và phản hồi của anh Phạm văn Thành. Nhận thấy phản hồi này cần thiết để làm sáng tỏ thêm cho loạt bài này nên Admin đưa thêm vào đây để bạn đọc được tường.
Phuong Nguyen Thien Em có cảm nghĩ như đang được ôm chầm lấy những người bằng xương bằng thịt mà lâu nay mình rất kính trọng ngay trên trang viết của anh Thành. Cảm ơn anh, cảm ơn việc làm hết sức ý nghĩa của anh.
19 hrs • Like

Phạm Văn Thành Cảm ơn Phuong Nguyen Thien, đây là một trong số những Note tôi khó viết nhất... vì nó đụng chạm đến chính mình quá nhiều! Anh Huỳnh ngọc Tuấn có viết về sự kiện này những năm 2011 chạy trên Đàn Chim Viêt...nhưng vì anh là người tham gia sau của sự việc, ở những ngày giờ sóng gío nhất... nên thời điểm ấy sẽ bị cuốn vào sự kiện, sự quan sát khó được những tầm nhìn từ trong sự vụ.
Nhóm tổ chức có ba người có thể viết được nhưng lại đang còn trong nước (và không chọn đời sống bình thường) nên sụ kiện chưa được viết lại với ngòi bút thật sự là người trong cuộc (mà đừng là tôi). Tôi cảm thấy đã trễ với thời gian nên buộc lòng phải thu xếp công việc để có giờ ngồi viết lại. Sự tình xảy ra là hơn 90% thực tế, chỉ khoảng 5 % tôi không còn nhớ rõ ràng (thí dụ các mạch đối thoại nguyên văn).
Vì đây là một sự kiện lịch sử của nhà tù Viêt Nam Cộng Sản, tôi cảm thấy không thể im lặng lâu được. Đây cũng là những sự kiện KHÔNG THỂ TƯỞNG TƯỢNG trong thời điểm 1994... nên ngay như khi ra hải ngoại, ông Phạm Anh Dũng có tường trình sự kiện này tại San Jose tháng 7.1999 nhung hầu như mọi người KHÔNG QUAN TÂM ĐỦ...

Cũng có vài tổ chức chính trị, đặc biêt là tổ chức Viêt Tân, thì lại cật lực làm lu mờ hoặc bôi nhọ sự kiện tháng 10/1994 này, gây hoang mang bằng cách nói tôi (PVT) là được an ninh phản gián cộng sản dàn dựng chuyện nổi dậy cho tôi có... uy tín để nhằm mục đích tung tôi trở lại hải ngoai, đánh phá tố chức VT!!! Thật là đau xót. Họ hoàn toàn nhắm mắt trước viêc sự kiện tháng 10.1994 đã gây sóng gío như thế nào trước Ủy ban Tối Cao Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc. Họ có thể thù ông Võ Văn Ái, có thể coi thường Ủy Ban Công Lý Hòa Bình của LM Mais Ngô Thành Mai (vị LM người Pháp đã lăn lộn làm việc nơi các trại cùi Di Linh VN nhiều năm trước 1975 và bị VC bắt cầm tù cùng tù nhân Trần Nam Phương, người đồng tổ chức cuộc nổi dậy A20 tháng 10.1994). Họ cũng có thể tự nhiên căm thù tôi vì những hành động tôi đã chỉ mặt họ năm 1989... nhưng nếu họ có, dù một chút ít lòng tự trọng và tình yêu nước... thì họ không thể nhắm mắt được viêc hàng trăm tù nhân chính trị làm cuộc biểu dương (tin tức thông ra với các hãng thống tấn quốc tế mỗi 12h)... Vậy họ là ai???????




-

0 nhận xét:

Post a Comment