Wednesday, April 30, 2014

A20 (3)

A20 – Những người quanh tôi.
Nhà số 3




Trại tù A20 Xuân Phước nằm chìm trong một giải thung lũng nằm trong địa phận huyện Đồng Xuân của tỉnh Phú Yên. Vùng đất này trước năm 1975 có một đợn vị biệt kích đóng làm bản doanh. Căn cứ có tên Biệt Kích Đồng Tre, nổi tiếng là đất dữ của thời có mặt quân đội Nam Hàn trú đóng tại đây.
Cạnh trại có lần trong ngày xả ao kéo cá của đội trọng án 12, tôi tiếp cận được hai ngôi mộ tương truyền là rất thiêng. Một ngôi mộ của anh Bê, một cựu sĩ quan VNCH, tù nhân A20 bị xử bắn và chôn tại chỗ. Một ngôi mộ khác lớn hơn rất nhiều, là ngôi mộ cổ của một vị lãnh tụ nghĩa quân Việt Nam thời phong trào Văn Thân Bình Tây Sát Tả. Mộ hoang tàn nhưng không dấu được nét uy nghi chứng tỏ những người lập mộ là những người có kiến thức sâu đậm về phong thủy.

Từ ngôi mộ cổ của một lãnh tụ thời Văn Thân đến tàn tích một căn cứ biệt kích của thời chiến tranh giai đoạn 1955_1975 chứng tỏ rằng, địa giơí này là một địa giới đặc biệt.

Dân cư trong vùng phát âm giọng Phú Yên rất đặc thù. Văn hóa mẫu hệ còn in dấu trong đời sống của dân chúng nơi đây khá rõ. Người đàn bà là người hầu như quán xuyến tất cả. Đi trên đường, người đàn bà vác cày dắt bò, anh chồng xách ấm nước đi thong dong bên cạnh. Chuyện «ngủ nhầm nhà» nơi đây không là chuyện quá quan trọng và thường là do các bà chủ động hoặc nhắm mắt «không thèm chấp».
Vùng này còn nhiều những cây sơn trong rừng cận trại, tố cáo rõ ràng sự bất lợi rất lớn đối với sự sống bình thường của con người. Cây sơn, dấu chỉ của vùng lam sơn chướng khí.

Nhà 3 là nhà giam nhốt khoảng 120 tù, đa phần là tù mang án danh «phản động», «âm mưu lật đổ chính quyền nhân dân», «tuyên truyền chống chế độ», "hoạt động phỉ" v. v. .. Án hình sự và tham nhũng chỉ có mặt trong khu vực này rất ít và đều là những nhân lực đội trưởng, nhà trưởng hoặc gác đêm hay trực sinh, trực buồng, nghĩa là nhân lực được giao nhiệm vụ báo cáo với ban giám thị tất cả những gì xảy ra trong sinh hoạt của nhà và của khu.

Nhà 3 nối với nhà 4 bằng một khu nhà cầu (vệ sinh, hố xí). Nhà có hai cửa để ra vào. Cửa chính nằm ở trung tâm nhà buồng, cửa phụ là cửa thông với buồng hố xí. Buồng hố xí có bốn bệ cầu, ngăn các bệ cầu là các bức tường lửng cao 65 cm. Các hố xí được xây cao hơn mặt đất 1met. Phẩn của tù nhân lọt xuống các lỗ trống của mỗi ô. Dưới lỗ trống ấy là gian hầm cầu, đã để sẵn 4 thùng chứa phân cỡ gần bằng nửa chiếc thùng phuy chứa xăng của quân đội. Phần nhà cầu nối với buồng tù được xây kín. Không có đường thông nào có thể thông với hầm cầu ngoai trừ bốn lỗ thông phân chu vi 18cm xây bê tông cót thép rất chắc chắn. Cửa phụ để ra vào song song với cửa chính được khoá rất chắc chắn bằng các thanh sắt dài kể từ khi điểm danh tối lúc 6 giờ chiều.

Qui chế ăn (1993)
Buổi sáng có một suất cơm cho tù trước khi đi làm, suất cơm này chừng 1 chén. Cơm, nguyên tắc là do thóc gạo của tù làm ra, nhưng thực tế lại là từ gạo thường đã rất cũ.
Buổi trưa 11h00 trực buồng sẽ đi lãnh suất cơm cho cả nhà về gian bếp chung rồi chia đều cho các đội.
Buổi chiều cơm lãnh từ 4h30 và cũng chia sẵn cho các đội theo phần của từng người. Tiêu chuần ăn của trại A20 không đến nỗi thiếu thốn cho tù, vì phân nửa tù nhân đều có thân nhân tiếp tế nên sự san sẻ cho nhau tự động làm giảm thiếu tình trạng thiếu ăn của tù nhân, điều này khác hẳn đối với các trại tù miền Bắc mà sau này tôi phải kinh qua, vốn qui định rất chi tiết về từng tiêu chuẩn phần cơm, ai là người được hưởng tiêu chuẩn 17kg, ai là 15, ai là 13 và ai là tiêu chuẩn 9kg/ gạo cho một tháng...

Suất ăn chỉ có cơm. Rau thì các đội tự sản xuất, nhà bếp chỉ duy nhất làm nhiệm vụ nấu cơm và chia cơm cho các buồng. Tù nhân đi lao động khổ sai ngoài trại, nhặt nhạnh củi từ ngoài rẫy ngoài rừng để đem vào trại, tự nấu rau và cá thịt nếu có. Chuyện giành ăn, cò kè phần cơm thiếu đủ... của tù nhân hình sự tuyệt không xảy ra ở trại này, hoàn toàn khác với khi tôi ra trại 5 Lam Sơn, Đầm Đùn Thanh hóa.

Qui chế thịt, mỗi tháng nguyên tắc là 125gr thịt tươi và 250 gr cá. Nguyên tắc này trại A20 không xén bớt của tù, nhung đa phần các trại miền Bắc là ăn chặn ăn bớt, thậm chí là cắt đứt hoàn toàn, như khi tôi ra trại Trung ương 5.

Trại A20 có hệ thống phòng ngự bằng mê hồn trận ao cá. Tù nhân phải cật lực lao động đào ao thả cá. Những ao cá được đào từ giai đoạn 1975 bởi các « tù hồi hương Việt Nam Thương Tín» và tiếp nối bằng các đợt tù sĩ quan quân đội miền Nam (thành phần nguy hiểm) kéo dài đến tận những năm 1990 đã tạo nên chằng chịt những ao hồ. Mỗi dãy ao cá đều có tù trông coi cả ngày lẫn đêm. Những tù nhân mà gia đình có điều kiện kinh tế sẽ thường chạy chọt để chiếm được chân trông giữ ao cá. Đây là những sắp hết án hoặc là những tù nhân kinh tế của chế độ. Nhiệm vụ là chăn nuôi heo, bò, và trông ao cá cho quản giáo đội. Thu nhập của việc chăn heo, gà, bò, ao cá …là quản giáo của đội ấy hưởng với nguyên tắc chia phần trăm cho ban giám thị.
Những tù nhân này cũng còn một nhiệm vụ đặc biệt là tri hô, đánh kẻng phèng la khi phát hiện có người trốn trại vượt ngục. Khi phát hiện được vụ việc và tri hô, án của người tri hô sẽ được giảm đến mức tối đa. Ngược lại, khi có tù trốn, dấu tích được xét định là có băng ngang địa giới của người trực ao cá thì tai hoạ không nhỏ sẽ đến với người gác ao. "Dùng củi đậu nấu đậu ", chiêu thức này đã được vận dụng rất cẩn thận trong việc đào ao, nuôi cá, tù canh tù của trại A20.

Các ao cá này cung cấp phần cá cho tù (khẩu phần 250gr / tháng). Tuy nhiên, cá phát cho tù đều là cá rô phi nuôi bằng phân của tù (các thùng phân của các buồng, sáng sớm tù trực sinh phải khênh ra đội cho cá ăn) không qua giai đoạn nuôi nước sạch …nên những tù nhân có gia đình thăm nuôi thường không dám đụng đến những con cá này, do vậy, những tù nhân không có tiếp tế tự nhiên có thêm phần lương thực cho mình. Điều này cũng khác hoàn toàn với các trại phía bắc mà tôi được biết.
Từ Nam Hà cho đến Thanh Chương, Phú Sơn, Thanh Cẩm, Thanh Liệt, Trại 5, Trại 3 … lương thực của tù đều cực kỳ thiếu thốn, trong khi chế độ khổ sai thì gắt gao hơn hẳn các trại trong nam. (những ghi nhận này được hiểu là mang giá trị cho hết năm 1999).

Nhà số 3 gồm có bốn đội tù. Đội nhà bếp 1 và nhà bếp 2, đội 12 (trọng án chính trị) và đội hải ngoại, mang tên đội 10.
Đội nhà bếp 1 thường cũng là những người án còn nặng, bị cấm xuất trại hoặc những người có tiền của đút lót để được làm trong đội bếp, so ra, nhàn hơn các đội khổ sai ngoài trại.
Đội bếp 2 là đội chất đốt. Đây là đội cung cấp chất đốt cho trại, họ được xuất trại vào rừng với một hai quản chế đi kèm. Chặt củi và kéo xe (cải tiến) chuyển vận cây củi từ rừng về trại và vào nhà bếp. Đây cũng thường là những người sắp mãn án.
Đội 10 là đội hải ngoại về (vụ án năm 1993) gồm những người từ Mỹ là Michel Nguyễn văn Muôn, người gốc Pnongpênh. Moris Đỗ Hườn người Phú qúy, Phan Thiết (cùng với em là Đỗ Phủ, án 6 năm). Đỗ hồng Vân, người miền Tây, cựu đại úy lính miền Nam. Phạm đức Hậu, di dân 1975 sống bằng nghề biết báo ở Mỹ? Canada có Nguyễn Ngọc Đăng. Nội địa có Nguyễn Cường (Thủ Đức). Văn đình Nhật (Huế), Đỗ Phủ (Huyện đảo Phú Qúy). Pháp có Lê hoàn Sơn (quê Cần Thơ) Phạm anh Dũng (gốc Hanội/Sài Gòn/du học 1964) và tôi.

Đội bếp đặc biệt có hai vị tu sĩ. Linh mục Hiếu (dòng Đồng Công) và Thượng tọa Thích Tuệ Sĩ. Trong đội này có hai nhân lực đặc biệt đối với tôi là Đinh văn Bé và Đỗ Bạch Thố. Đinh văn Bé cùng tôi trong một kế hoạch vượt ngục nhưng chỉ sau bốn tháng, Bé đã không giữ được mồm miệng nên không thực hiện. Cả Bé và Đỗ bạch Thố đều là những người thân cận của tướng Hoàng Cơ Minh trong vụ án xâm nhập Việt Nam tháng 8 năm 1987. Bé trong vụ án này là một cấp chỉ huy khá cao và Thố là chỉ huy đội cận vệ cùng với Trần Đế (Sóc Trăng). Đỗ Bạch Thố là người đi sát mọi đường đi nước bước của tôi, cũng là « tay hòm chìa khóa ». Thố cùng tuổi tôi, sức khỏe vô đối và là người cực kỳ cẩn thận. Cũng là người từng thất bại trong một vụ vượt ngục của A20, chịu nhiều năm tháng cùm kỷ luật. Trong cuộc nổi dậy trại A20, BạchThố chấp nhận làm vai trò là mục tiêu giả để hệ thống an ninh trại tù dồn công lực vào mong tìm ra chân tướng của vụ nổi loạn. Nhờ những người như Thố mà anh em tôi thực hiện được vụ nổi dậy A20 tháng 10/1994. Nhân vật đặc biệt thứ ba là biệt kích Hoàng đình Mỹ. Nhân vật thứ tư là Trương văn Sương, người đàn ông tóc cứng mặt như Trương Phi người Khờme Crome Hoa Việt …


0 nhận xét:

Post a Comment