Tuesday, April 29, 2014

Ông Cha La Ðà Lạt

September 23, 2014




Tôi chẳng nhớ từ bao giờ ông cụ có chiếc xe âý. Chỉ nhớ là mỗi khi đám trẻ trâu chúng tôi được đi sang khu trù mật của nhóm linh mục Hoàng Quỳnh là đi trên chiếc Jeep của ông cụ Hòa và mỗi lần đi như thế, đều không tránh khỏi việc so sánh hai con xe bốn bánh ấy với nhau.
Ông cụ Hòa có vẻ tây học hơn ông cụ La Ðà Lạt rất ư là nhiều! Ông cụ Hòa mỗi tuần vài ngày đi học đàn guitar cổ điển mãi Sài Gòn, đêm đêm tiếng đàn ồ ạt mỗi ngày mỗi thêm réo rắt, thậm chí có lúc như phừng lên, bập bùng trong những tiết điệu của một phiên chợ Ba Tư xa xăm nào đó …trong khi ông cụ La Ðàlạt suốt ngày chỉ lẩn quẩn với tiếng đàn... heo!
Xứ đạo Lai Ổn /Lộ Ðức có người thâý vậy mà sanh lòng buồn, nghĩ rằng cha cụ của mình sao « bình dân học vụ » quá đỗi!

Có một lần đi từ tòa Xuân Lộc về xứ Ðồng Lách hẻo lánh của chúng tôi (sau 1970 đạt tên lại là Đồng Vinh). Xe Jeep mấy cha con vừa ôm cua lượn qua cung đường bạt ngàn cây cao su gần vùng Bàu Cá thì nhìn thấy con La Ðalat của ông cụ đang lọm khọm đi đằng trước, Ông cụ Hòa rê thắng để xe giảm bớt tốc độ khi sát gần chiếc La Ðalat để vượt lên. Tốc độ và bề thế của chiếc Jeep nổi trội hơn quá nhiều khi lướt qua con xe La Ðalat ông cụ đang chông chênh cầm lái!
Mấy đứa chúng tôi đều có vẻ như cùng chựng lại với chung một cảm giác, nửa như thương hại, nửa như hãnh diện … đối với sự lom khọm của con La Đalat! Cả bọn chúng tôi đều là những đứa được ông cụ giảng dạy cho rất nhiều lần về giá trị của sự khó nghèo nên trong nỗi thương hại, lại dậy lên đâu đó một sự hãnh diện ngấm ngầm.

Chúng tôi là những đứa trẻ công giáo sanh ra ở hai cái làng cực nghèo gần vùng Hố Nai, sát bìa rừng nối với chiến khu Ð của quân cộng sản Bắc Việt.
Ấp của tôi tên là ấp Ðông Hải 2, nguyên từ những giáo dân đầu tiên gốc Kiến An và Hải Dương năm 1954 lưu lạc vào đây lập nghiệp và đặt tên.
Thời 1955 ấy vùng tôi sanh ra có ba cộng đồng khá lớn của giáo dân công giáo thuôc ba tỉnh từ ngoài bắc di cư vào, là Hải Dương, Kiến An và Bắc Ninh.
Giáo dân Bắc Ninh tụ vào một giải đồi, đặt tên cho họ đạo ấy là họ đạo Thanh Bình. Sau vài năm, họ đạo Thanh Bình phải rời bỏ hai quả đồi ấy để nhập vào với hai cộng đồng Kiến An và Kẻ Sặt, chịu lấy tên chung là Ðông Hải, là một tên gần như đặc thù của người làng Sặt từ Bắc kéo nhau vào Nam.

Tôi đã lớn lên từ ngôi làng có căn nhà xứ « trống tòa ». Xứ đạo Ðông Hải không có linh mục sau một số những hoán chuyển của Tòa Giám Mục Xuân Lộc. Linh mục Nhật phải ngày ngày từ giáo xứ Lộ Ðức băng đồng sang làm lễ ở nhà thờ xứ chúng tôi những năm 1968 /69. Tôi gần gũi với ông cụ từ những ngày này, với bát canh rau đay, dăm qủa cà pháo, dăm con cá rô kho rất mặn. Ðây là những món ăn hàng ngày của ông cụ do chính mẹ tôi nấu và bưng vào nhà xứ cho ông cụ dùng.
Nhiều buổi ông cụ đói meo vì mẹ tôi về muộn, nhưng chưa bao giờ tôi nhìn thấy ông cụ bẳn gắt với chúng tôi. Mắt ông cụ sáng lên khi mở lồng đậy cơm mà nhìn thấy canh rau đay cà pháo mắm tôm. Ông xoa xoa hai tay vào nhau, gấp gáp kéo ghế ngồi, sới cơm cho cả tôi. Nhưng đời nào tôi dám ăn! Bố tôi mà biết tôi ngồi ăn cơm cùng ông cụ thì chỉ có nước … róc xác! Bố tôi rất dữ ở cái khoản lễ giáo này. Với ông, linh mục là thánh sống!

Hơn năm trời tôi sống trong một nội trú của các sơ dòng Ða Minh Catarina, trở về thì xứ tôi đã thay đổi nhiều. Linh mục Nhật không còn sang xứ chúng tôi nữa. Xứ có một linh mục nhiều bằng tiến sĩ về nhận nhiệm sở. Linh mục Hòa về giáo xứ tôi khác nào đem kỹ sư về làng …tương bần! Làng quá nghèo lại giao tranh liên miên! Ðường xá là đường đất sịnh lầy vì hàng ngàn con trâu của đồng bào Nùng ngày ngày đi qua con đường huyết mạch. Linh mục Hòa gần như bị cảnh lưu đày khi nhận nhiệm sở ở đây!
Bằng cảm giác của những đứa giúp lễ ngày ngày bên cạnh các linh mục, đám chúng tôi cảm nhận rõ điều này để tình thương yêu dành cho linh mục Nhật trong tôi mỗi ngày mỗi sâu đậm hơn khi chứng kiến sự khác nhau đến đối lập giữa hai phong cách sống của hai vị linh mục. Những bữa ăn bị cằn nhằn của bà giúp việc, đến những buổi vặt lông đàn chim sẻ của người đàn bà nấu ăn quê mùa… làm tôi nhớ đến những miếng cà pháo mà ông cụ cắn vỡ say sưa, vừa và cơm vừa gật gù, một mình trong căn nhà trống vắng với đàn trẻ trâu ngu ngơ ngớ ngẩn.

Ông cụ từ đấy sắn tay vào việc chăn nuôi lợn. Một mình ông cụ nuôi mấy chục con. Cả lợn nọc lẫn lợn xề. Lợn đẻ, ông cụ chủ động chính tay mình lo toan, người giúp việc ông cụ trả công nghiêm chỉnh. Hàng ngày, sau thánh lễ sáng là ông cụ tất bật với đàn lợn. Buổi trưa, sau giờ tĩnh tâm, lại là đàn lợn cho đến thánh lễ tối. Học trò của ông cụ nhiều người thành đạt, phần tài chánh đều từ những đàn heo lợn này mà ra. Có điều, không phải ai cũng thấy việc làm ấy của cụ là có ý nghĩa. Có những tiếng nói không ưa ông cụ đến tận tòa địa phận! Ông cụ vẫn không thay đổi. Vẫn như một ông mõ làng của nhà chúa, trong lúc tất bật với đàn heo và những đứa con mà ông là cha linh hướng …

Ðến khi cuộc chiến vũ bão ập vào tới tận chân làng hai xứ đạo. Người người bỏ ruộng vườn, bỏ nhà cửa tháo chạy tránh chiến tranh. Khói pháo kích thè cả lưỡi liếm trên mái nhà xứ của giáo họ Lộ Ðức. Ông cụ vẫn bám làng. Chiều 28 /4/1975 … ông cụ còn gọi bố tôi.
_ Ông Năm Sứ không chạy à?
Bố tôi hốt hoảng khi nghe tiếng ông cụ gọi lớn từ phía sau vườn, sát góc đường đi, phía cánh đồng nối hai xứ đạo. Cha con họ nói với nhau những câu an ủi của kẻ bám làng. Ông cụ bảo rằng: « Ði cả lấy ai giữ làng! Mà bây giờ còn đi đâu được nữa! ».
Tiếng ông lọt thõm trong những âm thanh khô khốc của sinh hoạt chuẩn bị chiến tranh khốc liệt từ những đại đội rằn ri của một tiểu đoàn Nhảy Dù đang quyết tử chiến, dưới một bầu trời đang mù đặc khói pháo hạng nặng.

¤



Ông cụ không còn xăng nên chiếc La Ðàlạt phải bán đi. Ðàn heo cũng giảm hẳn. « Giải Phóng » đã hai năm! Ðời sống thay đổi đến độ không ai có thể tưởng tượng ra trước đó. Những con người trốn lính hèn kém bỗng nhiên trở thành phụ mẫu chi dân! Những anh chàng lẩn khuất với những giỏ câu bỗng chốc có quyền ngang nhiên giết người! Luá mạ tự dưng cháy rụi vì những thứ bệnh đạo ôn xa lạ! Cá chết trắng đồng! Con người ta có thể giết nhau vì vài chục trái bắp! Ðói vàng mắt vì cảnh cha chung không ai khóc. Lúa tập đoàn càng bất lực trước các bệnh lạ thi nhau xuất hiện.
Ðoàn quân chiến thắng ngô nghê quát tháo trên các loa ấp loa phường về một thứ thiên đường mà họ hoàn toàn mù tịt. Bức tường tri thức cơ hồ như hàng ngày bị húc ủi bằng những đầu súng xe tăng. Sách vở bị đám vô thần vô văn hóa lôi ra đốt văng mạng! Lửa bốc cao khét lẹt như thiêu sống những con người văn minh trong đó…
Thật là kinh khủng!
...

Một buổi trưa đi học về bộ, cha con tôi đụng đầu nhau.
Ông cụ thường có thói quen gặp bất cứ ai đang gồng gánh trên đường, nếu tiện đường về, ông đều dừng chiếc Honda dame lại để bắt người âý ngồi lên xe! Lủng củng lảng cảng ra sao cũng mặc kệ! Mồ hôi mồ kê ra thế nào cũng mặc kệ, ông chở về tận nhà rồi mới vòng lại nhà xứ của ông. Tôi có cảm giác ông thương dân xứ của tôi hơn cả giáo dân bên xứ ông cụ! Chắc điều này đúng, vì quả thực là dân làng tôi nghèo quá sức là nghèo, mà ông thì đám chúng tôi biết rõ, ông cực kỳ thương yêu những đứa nghèo khổ nhất (tôi không có trong danh sách này của ông).
Cuối con dốc cao, ông dừng xe, hai chân chống hai bên. Tiếng máy xe lạch bạch. Thấy tôi ngần ngừ, ông như cáu.
_ Còn phải mời hẳn!
Tôi vội vàng leo lên ngồi sau lưng ông.
_ Vẫn cứ hấp tấp vậy à, bao giờ thì lớn đây?..
Tôi câm như hến, chẳng biết nói gì. Xe gần tới nghĩa trang quạnh hiu của xứ tôi. Ðây là cái nghĩa trang có nhiều điều buồn phiền đã làm cho hai xứ đạo trở thành thù hằn nhau ở những năm đầu di cư! Tôi biết, ông cụ rất buồn mỗi khi nhắc đến câu chuyện năm xưa khi hai xứ đạo tranh giành nhau vì tính tự ái địa phương vùng miền! Ông cụ bỗng bẻ quặt tay lái. Xe chạy thẳng vào nghĩa trang. Dừng lại trước cây thánh giá lớn ông bảo tôi lấy chổi quét môt chỗ để hai cha con ngồi. Tôi đã quá quen thuộc những ngóc ngách của nghĩa trang này, ở đâu cất chổi, ở đâu cất nước … tôi như thuộc lòng...
Ðó là lần đầu tiên tôi được nghe về hai chữ kháng chiến. Lần đầu tiên trong đầu tôi xuất hiện rõ ràng hai chữ Phục Quốc.

¤


Tôi trở thành đứa thanh niên biết chăm heo sanh đẻ. Một công việc rất đỗi xa lạ với hầu hết thanh niên lúc bấy giờ. Tôi biết đi rừng, biết dùng dao quắm cho các mục tiêu tự vệ mà chỉ một đường vung lên phạt xuống, khó có thân thể nào không bị đứt làm đôi trong tình huống cận chiến.
Trong căn chòi của một người Bắc Ninh nơi những khu đồi của vùng Hố nai 4, dần dà tôi biết cách nhận dạng về các thứ kíp nổ và thuốc nổ, biết cách dấu cảm xúc, biết cách « nhìn mà không nhìn », biết cách dấu đi những hiểu biết của mình về môt vấn đề nào đó hệ trọng, biết thế nào là tướng pháp căn bản của những người ngay hoặc những kẻ gian giảo. Biết phân biệt yêu thương hay ủy mỵ và được dạy lúc nào phải bao dung, khi nào phải cương quyết. Tôi biết đi nhận tiền bạc và biết chuyển nó đến nhưng nơi cần đến. Biết mọ mạy với chiếc máy đánh chữ mà với tôi, là điều gì đó vô cùng kỳ vĩ.

những bản án tử vô tội vạ từ bạo quyền mới chiếm được miền Nam

Năm sau, tôi được ráp nối với một tổ chức có tên « Phong Trào Kháng Chiến Liên Tôn ». Chưa thi thố được gì thì các nhóm của linh mục Nguyễn văn Vàng bị bắt, kéo theo rất nhiều những cuộc bố ráp nơi các xứ đạo, đặc biệt là vùng Gia Kiệm, Xuân Lộc, Bàu Cá, Hố Nai, Vũng Tàu! Linh mục Nhật cho người báo tin cho tôi: « Phải ra bắc, với Nh …! ».

Hôm sau, cô bạn gái hơ hãi tìm tôi, ôm chầm lấy nhau khóc như hai anh em ruột vừa nhận tin mẹ chết.

- Anh ơi! Cha Nhật bị bắt rồi!



-

0 nhận xét:

Post a Comment